Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

CẢNH BÁO 1 BLOG MẠO DANH BLOG SỨC KHỎE COMMENT LUNG TUNG


Gần đây có một blog giả dạng - mạo danh blog sức khỏe comment trả lời lung tung cho bạn đọc (đùa cợt, châm chọc, trả lời sai kiến thức ). Nội dung blog này trống toát, giống blog sức khỏe cái avatar và nick bsmanhha.

Địa chỉ blog giả dạng này là: http://360.yahoo.com/profile-e4zJLb49dKhbnjz3UcRXxO2RwoM-?cq=1


Các bạn blogger và bạn đọc hết sức lưu ý, địa chỉ blog sức khỏe duy nhất chỉ có hai địa chỉ là:
http://blog.360.yahoo.com/profile-OPIX.3Mlaac0lrS3pETFWLnL
http://360.yahoo.com/tranhabs80


Khi phát hiện comment từ blog giả dạng này, các bạn hãy thông báo cho mình để xóa đi. Thật là hết biết blog cũng bị giả dạng

Cám ơn các bạn ! Thân ái.


Ý kiến của bạn về blog giả dạng - mạo danh




Tôi ghét blog giả mạo, đây là blog "bẩn", cần báo Yahoo360 ngặn chặn

10


Blog mạo danh cần được cảnh báo sớm cho mọi người.

8


Cứ để blog mạo danh tồn tại, rồi nó sẽ tự biến mất.

3


Tôi không có ý kiến về blog mạo danh.

1




Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Viêm não do virus herpes


Viêm não do virus herpes simplex - 1 là bệnh lý nặng, có tỷ lệ tử vong rất cao. Việc chẩn đoán xác định còn nhiều khó khăn nên tỷ lệ phát hiện bệnh rất thấp, nhiều ca bị bỏ sót. Tuy nhiên, đây là loại viêm não virus duy nhất có thuốc đặc trị.

Virus herpes simplex - 1 (HSV1) là một trong nhiều tác nhân gây viêm não khá phổ biến. Bệnh xảy ra rải rác, không thành dịch, thường diễn tiến nặng, gây tử vong hoặc để lại nhiều di chứng khiến trẻ khó thích nghi với cuộc sống sau này. Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Mỹ, HSV1 hiện diện ở khắp nơi trên thế giới. Người mang HSV1 tiềm ẩn là nguồn lây quan trọng. Thống kê cho thấy ở các nước phát triển, tỷ lệ kháng thể dương tính là 20%. Với các quốc gia kém phát triển tỷ lệ này cao hơn, khoảng 33% ở trẻ dưới 5 tuổi.

HSV1 xâm nhập cơ thể con người qua đường niêm mạc mũi - hô hấp. Virus sẽ trực tiếp đến não, gây viêm não, ảnh hưởng đến toàn bộ não nhưng có khuynh hướng gây tổn thương nhiều ở vùng thùy trán, đặc biệt là thùy thái dương.

Triệu chứng lâm sàng của viêm não do HSV1 rất đa dạng. Rối loạn tri giác, sốt và co giật là những dấu hiệu đầu tiên thường được ghi nhận. Trẻ lớn thường có thêm các triệu chứng nhức đầu, thay đổi tính tình. Những biểu hiện khác có thể gặp là nôn ói, hay quên.

Việc phân lập HSV1 trong dịch não tủy thường cho kết quả âm tính vì nồng độ virus quá thấp. Phương pháp nhân đôi ADN và ARN của virus trong dịch não tủy có giá trị phát hiện HSV1, nhưng chưa thể thực hiện rộng rãi tại các cơ sở y tế.

Trên 70% bệnh nhân không điều trị sẽ diễn tiến đến tử vong. Chỉ có 2,5% trong số bệnh nhân sống sót phục hồi chức năng thần kinh bình thường. Ở những trường hợp sống sót, bệnh nhân từ từ tỉnh lại, nhưng vẫn còn rối loạn tâm thần và tổn thương thần kinh kéo dài. Di chứng thường gặp là có những động tác bất thường, yếu liệt chi, gồng vặn người từng cơn, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi, nói khó hoặc không nói được, không viết được, rối loạn chức năng trí tuệ nhiều mức độ. Những di chứng vận động làm cho trẻ khó thích ứng với đời sống gia đình và xã hội. Rối loạn trí tuệ và phát triển tâm thần kinh làm trẻ không thể tiếp thu bài học như bạn cùng lớp.

Đến nay, viêm não do HSV1 là bệnh viêm não virus duy nhất có thuốc đặc trị, đó là acyclovir. Thuốc giúp giảm tỷ lệ tử vong từ 70% xuống còn 19% và tăng tỷ lệ hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh lên 38%. Sử dụng thuốc càng sớm thì cơ may hồi phục càng cao. Y văn khuyến cáo điều trị acyclovir ngay khi có chẩn đoán nghi ngờ. Chú ý cung cấp nước cho cơ thể đầy đủ để giảm nguy cơ gây độc cho thận.

Ngoài ra, trẻ cần được hạ nhiệt, chống co giật, phù não, điều chỉnh rối loạn nước và điện giải, dinh dưỡng đầy đủ. Vật lý trị liệu cần được tiến hành sớm khi trẻ ổn định lâm sàng hoặc khi phát hiện có di chứng. Bệnh nhân cần được tiếp tục theo dõi sau khi xuất viện để phát hiện di chứng não.

Viêm não là một bệnh lý khó và nặng. Điều quan trọng là phải được khám và điều trị sớm. Do thời gian diễn tiến của bệnh rất nhanh nên phải nhanh chóng đưa trẻ tới ngay cơ sở y tế gần nhất khi có những biểu hiện bất thường như sốt kèm co giật, rối loạn tri giác. Mọi cách tự chữa trị viêm não tại nhà đều có thể gây hại.
(Theo Vnexpress)

Viêm gan C có thể ngăn chặn nếu phát hiện sớm

Viêm gan C có thể ngăn chặn nếu phát hiện sớm

Có đến 30% số ca nhiễm ở mức độ nặng không biết mình lây từ nguồn nào và bao giờ, một phần do không có triệu chứng bệnh lý về gan. Đề phòng bệnh tiến triển đến độ suy gan hoặc ung thư, cách tốt nhất là khám định kỳ, làm sinh thiết để tìm ra virus nếu có.

Theo GS. Patrice Cacoub, Khoa nội Bệnh viện Pitie Salpetriere Paris, Pháp, biểu hiện bên ngoài viêm gan C chủ yếu là các triệu chứng kéo dài như mệt mỏi (hơn 50%), đau khớp, rối loạn cảm giác, đau cơ, ngứa, tăng huyết áp... và các triệu chứng như cảm cúm. Con đường lây truyền virus gần đây có trường hợp không xác định, ngoài cách thức chủ yếu là dùng thuốc đường tĩnh mạch, truyền máu và quan hệ tình dục. Do đó, thử máu bằng khám định kỳ là phương thức duy nhất tìm ra con virus, cũng là việc làm cần thiết cho mọi người.

Nếu không kịp thời phát hiện điều trị, khoảng 80-85% bệnh nhân viêm gan C sẽ dẫn đến mãn tính, xơ gan. Khi gan bị xơ hóa độ 4 có thể kéo theo xuất huyết, suy gan hoặc ung thư.

Cũng theo GS. Cacoub, hiện nay, cơ hội điều trị khỏi hoàn toàn viêm gan C đã tăng so với chỉ 5% số bệnh nhân như trước đây. Cụ thể, đối với bệnh nhân viêm gan C type 2, 3, tỷ lệ đáp ứng thuốc đạt hơn 50%; với type 1, 4, 5, 6 đạt gần 90%. Phác đồ mới nhất là tiêm interferon liều 1 tuần/lần, phối hợp giữa PEG - IFN và Ribavirin chặn đứng quá trình xơ gan và diệt con virus.
(Theo Vnexpress)

Nam bị viêm gan C dễ chuyển sang ung thư hơn

Những người bị nhiễm virus viêm gan C có nguy cơ bị ung thư gan. Mới đây, các nhà khoa học Nhật Bản lại phát hiện ra rằng nguy cơ này xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ.

"Là nam giới, có tuổi, lượng enzyme trong gan cao và nồng độ cholesterol thấp là những yếu tố làm tăng nguy cơ tiến triển thành ung thư gan từ bệnh viêm gan C. Điều nguy hiểm là người bệnh có thể bị ung thư song không biết vì không hề có triệu chứng của bệnh", tiến sĩ Hideo Tanaka thuộc Trung tâm Nghiên cứu Ung thư và bệnh tim Osaka, cho biết.

Để tìm hiểu nguy cơ tiến triển thành ung thư gan từ bệnh viêm gan C, Tanaka và cộng sự đã tìm hiểu 1950 người bị viêm gan C có độ tuổi từ 40 trở lên. Nhóm này được so sánh với 150.000 người khỏe mạnh. Thời gian theo dõi kéo dài 99 tháng.

Kết quả cho thấy, ở những nam giới bị viêm gan C, số người bị mắc ung thư gan là 22%, trong khi đó tỷ lệ này ở nữ chỉ là 9%.

Các chuyên gia cho biết nguy cơ ung thư gan tăng lên khi enzyme trong gan tăng lên và lượng cholesterol giảm xuống. Những bệnh nhân viêm gan C hội tụ đầy đủ cả 2 yếu tố nguy cơ này. Ngoài ra, nguy cơ ung thư cũng tăng theo tuổi tác ở cả nam và nữ.

Phát hiện này cho thấy tầm quan trọng của chế độ theo dõi bệnh gan thường xuyên ở những nơi có tỷ lệ mắc bệnh viêm gan C cao, nhóm nghiên cứu kết luận.
(theo Reuters)

Phương pháp mới trong việc điều trị bệnh viêm gan siêu vi C

Việc phối hợp hai chất peginterferon – thuốc điều trị thế hệ mới – và ribavirine trong phương pháp điều trị bệnh viêm gan siêu vi C đã mang lại những kết quả đầy hứa hen đối với các bệnh nhân mà phương pháp điều trị cổ điển không tỏ ra hiệu quả.

Một nghiên cứu được trình bày tại hội nghị thuộc Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan của Mỹ đã theo dõi 80 bệnh nhân không có phản ứng đối với các phương pháp điều trị cổ điển và đã dùng hai loại thuốc interferon và ribavirine.

Các bệnh nhân này đã được chia làm ba nhóm . Trong suốt 12 tuần, một số đã dùng liều peginterferon trong một tuần lễ cao gấp đôi so với bình thường – 360 µg thay vì 180 µg – phối hợp với ribavirine.

Kết quả là các bệnh nhân này được ghi nhận là có tỉ lệ phán ứng với virus trong thời gian kéo dài là 37,5%. Kết quả này đã tỏ ra đáng khích lệ trong khi ở những nghiên cứu trước đây, tỉ lệ này chỉ chiếm 10%.

Tiến sĩ Moises Diago, tác giả nghiên cứu trên đã khẳng định rằng việc phối hợp hai loại thuốc này có thể là một chiến lược tốt đối với các bệnh nhân không có phản ứng với những phương pháp cổ điển.
(Theo Destination Santé)

Bệnh nhân viên gan siêu vi C thiếu kiên nhẫn khi điều trị

Với thời gian điều trị kéo dài 6-12 tháng, chi phí tốn kém có thể lên đến 15 triệu đồng/tháng, lại thường xuyên phải đối mặt với những xáo trộn trong chất lượng cuộc sống, nhiều bệnh nhân viêm gan siêu vi C (HCV) đã nản lòng, bỏ cuộc.

Anh Quảng, 43 tuổi, là chuyên gia tài chính cho một công ty khá lớn. Khi phát hiện mình bị HCV, anh đã đắn đo rất kỹ và hai năm sau mới quyết định điều trị. "Dù đã được bác sĩ cảnh báo về tác dụng phụ của thuốc nhưng tôi vẫn không lường hết được hậu quả của nó. Uống thuốc vào tôi thấy người bức bối khó chịu, tinh thần mệt mỏi, hay cáu gắt vô lý với mọi người. Hơn một lần tôi làm nhầm hai con số trong bảng kế toán. Nhiều lúc muốn bỏ cuộc vì dù sao thì cũng mấy mươi năm nữa bệnh mới bộc phát", anh tâm sự. Thời gian điều trị kéo dài và chi phí khá tốn kém cũng góp phần làm anh Quảng thêm nản lòng. Anh cho biết tháng nào ít anh cũng phải bỏ ra 2-3 triệu, nhiều tới 15 triệu đồng cho việc điều trị bệnh.

"Có khá nhiều người vì lý do này khác mà không thể theo đuổi việc điều trị đến cùng. Thậm chí có người còn chấp nhận chờ sự tiến bộ của y học rồi sẽ chạy chữa luôn", bác sĩ Nguyễn Hữu Chí, Phó chủ nhiệm bộ môn nhiễm Đại học y dược, Trưởng khoa nhiễm E, Bệnh viện Nhiệt đới TP HCM, cho biết.

Theo bác sĩ Chí, để điều trị được bệnh viêm gan C, đòi hỏi người bệnh phải có sự chuẩn bị trước về mặt tâm lý và sự kiên trì trong quá trình điều trị. Phải chấp nhận một chế độ kiêng cữ nghiêm khắc do bác sĩ đề ra. Do HCV có nhiều dạng khác nhau nên nguy cơ biến chứng cũng khác nhau. Trước khi điều trị bao giờ người bệnh cũng sẽ được bác sĩ báo cho biết trước về khả năng, diễn biến trong quá trình điều trị, những vấn đề mà bệnh nhân phải đối mặt... Chỉ khi nào người bệnh cảm thấy có thể chấp nhận được tất cả yêu cầu mới được chẩn đoán.

Quá trình điều trị phụ thuộc vào kết quả chẩn đoán. Kết quả chẩn đoán khác nhau sẽ cho ra quá trình điều trị khác nhau. Mà không phải trường hợp nào được điều trị cũng sẽ hết bệnh hoàn toàn. "Kết quả điều trị còn phải chờ xét nghiệm lại khi chấm dứt quá trình điều trị sau 6 tháng. Nếu xét nghiệm thấy trong máu không còn virus HCV thì kết luận là đã hết. Nhưng cũng có nhiều trường hợp virus vẫn còn trong máu người bệnh. Điều đó không có nghĩa là quá trình điều trị không hiệu quả mà là không đạt được kết quả như mong muốn. Nó đã giúp người bệnh hạn chế nguy cơ phát triển và biến chứng của bệnh", bác sĩ Chí cảnh báo.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Chí cho biết thêm, cái khó nhất hiện nay là ngay khi đã biết bệnh nhân bị nhiễm HCV, các bác sĩ cũng không thể nào xác định được thời điểm người bệnh bị nhiễm. Hơn nữa diễn biến của bệnh rất khó lường trước được. Khi virus xâm nhập vào cơ thể qua đường máu, chúng tấn công lên tế bào gan và sinh sôi phát triển tại đây. Các virus này làm cho các tế bào gan sưng lên, cuối cùng gan sẽ bị phá hủy sau 20-30 năm. Trong khoảng thời gian đó người bị nhiễm HCV vẫn có cuộc sống bình thường và không hề cảm thấy có triệu chứng gì bất thường. Còn bệnh cứ diễn biến âm thầm. Do đó nhiều trường hợp khi phát hiện bệnh đã ở giai đoạn cuối, xơ gan hay ung thư gan.

Thế giới hiện có khoảng 170 triệu người đang bị nhiễm HCV đã phát hiện được. Nhiều nhất là ở các nước đang phát triển. Còn tại Việt Nam, qua những công trình nghiên cứu, thì đã có 2% dân số bị nhiễm HCV.

Bệnh lây truyền chủ yếu qua bốn đường: tiêm chích ma túy, truyền máu, tình dục, mẹ sang con. Chiếm tỷ lệ lây truyền cao nhất là do tiêm chích ma túy và qua đường máu. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy việc xăm môi, mắt... cũng dễ bị nhiễm HCV.

Căn bệnh này hiện chưa có văcxin phòng ngừa. (DT)

Tinh dịch đông đặc - nguyên nhân gây vô sinh


Do bị cầm tù trong dịch đặc, tinh trùng mất khả năng di chuyển, không tiến sâu được vào bên trong để có thể kết hợp với trứng.

Tinh dịch không hóa lỏng là một trong những nguyên nhân dẫn đến vô sinh nam. Các thống kê cho thấy, trong số nam giới vô sinh, các trường hợp tinh dịch không hóa lỏng chiếm khoảng 10%.

Bình thường, tinh dịch khi vừa phóng ra là những cục ngưng kết đặc quánh màu vàng đậm, trong suốt, sau đó đục dần và trong vòng 5-30 phút sẽ biến thành chất lỏng. Ở người bình thường khỏe mạnh, tinh dịch đã hóa lỏng là một thứ thể dịch đồng nhất có tính lưu động cao, không có lẫn sợi hoặc lẫn một ít sợi nhỏ nhưng khều lên sẽ bị đứt.

Trạng thái lỏng cùng với tính lưu động giúp tinh trùng trong tinh dịch dễ dàng di chuyển, tiến sâu vào bên trong cơ quan sinh dục nữ để có thể kết hợp với trứng và thụ thai.

Nếu như sau khi phóng 60 phút mà tinh dịch vẫn đông đặc hoặc chảy ra nhưng có lẫn những khối vón cục (trên 10% dung tích) thì đó là hiện tượng tinh dịch không hóa lỏng. Do độ đặc dính của tinh dịch quá cao nên có thể dẫn đến xuất tinh khó khăn hay bị đau, đôi khi lẫn những giọt trắng hoặc máu. Tùy từng nguyên nhân, người đàn ông có thể gặp những chứng trạng toàn thân tương ứng.

Theo Đông y, tinh dịch là một loại âm dịch được tạo ra ở tạng thận nên sự hóa lỏng của nó liên quan trực tiếp với chức năng khí hóa của thận. Nếu như thận dương không đầy đủ, hàn tà ngưng trệ hoặc thấp trọc ứ đọng, quá trình khí hóa của tạng thận sẽ bị trục trặc, tinh dịch sẽ không hóa lỏng được.

Mặt khác, tình trạng thận âm bất túc, âm hư hỏa vượng hoặc thấp nhiệt ứ đọng ở hạ tiêu, nhiệt tà thiêu đốt tân dịch... cũng có thể khiến tinh dịch không thể hóa lỏng.

Đông y có một số bài thuốc cải thiện tình trạng này. Tuy nhiên, để chọn bài thuốc thích hợp với mỗi người, thày thuốc phải dựa vào từng triệu chứng cụ thể và thể tạng của từng bệnh nhân.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

"Bắt mạch'' cho da


Trước khi đưa tay nặn mụn hoặc trang điểm cho khuôn mặt, hãy xem liệu da bạn có bệnh hay không?

Bệnh do rối loạn tuyến dầu

- Mụn đầu đen: Thường xuất hiện ở trán và mũi. Khi nang lông có quá nhiều dầu từ tuyến nhờn, mụn đầu đen xuất hiện tạo thành khối bịt kín chỗ hở nang lông. Trường hợp bị nặng phải được bác sĩ da liễu điều trị.

- Mụn đầu trắng: Mụn do sự bí tắc của tuyến dầu, có thể thấy ở bất cứ nơi nào trên mặt, cổ lưng, ngực và hai vai. Da khô hoặc da mỏng thường hay bị loại này tấn công.

- Trứng cá: xuất hiện là do viêm tuyến bã nhờn vì ức chế điều tiết, mọc thường xuyên trên mặt, lưng và ngực. Có thể cải thiện bằng những loại sữa rửa mặt dạng thuốc không theo đơn. Bệnh nặng phải được bác sĩ da liễu điều trị. Đừng nặn mụn mà phiền toái hơn đấy.

Da bóng nhờn là tình trạng gia tăng bất thường trong điều tiết từ các tuyến nhờn.

- Asteatosis (khô da): Sự thiếu hụt hoặc không có chất bã nhờn có thể gây nên chứng da khô, tróc vẩy. Nguyên nhân là do tuổi già hoặc tiếp xúc với điều kiện lạnh quá nhiều.


- Rosacea hay tắc tuyến bã nhờn mãn tính: Thường thấy trên hai má và mũi. Do mạch máu giãn nở nên da đỏ lựng và hình thành các nốt nhú cũng như mụn mủ (mụn có hoặc không có đầu). Nếu ghi ngờ mình bị tắc tuyến bã nhờn, nên đến bác sĩ da liễu.

Bệnh rối loạn tuyến mồ hôi

- Anhidross là sự thiếu hụt tình trạng đổ mồ hôi thường do sốt hoặc cần được điều trị bằng y học.

- Hôi nách, chân là kết quả của tình trạng đổ mồ hôi nặng mùi ở hai nách hoặc bàn chân.

- Hyperhidrosis là bệnh đổ quá nhiều mồ hôi do nhiệt hoặc cơ thể yếu. Bệnh này phải điều trị bằng y học.

- Rôm sẩy thường do quá nóng nên da viêm tuyến mồ hôi cấp tính và xuất hiện mụn nước kèm theo ngứa, rát.

Bệnh do viêm nhiễm trên da

- Viêm da: xuất hiện dưới nhiều dạng, kể cả mụn nước hoặc không có mủ.

- Chàm Eczema: hay đúng hơn là bệnh viêm đau da dưới nhiều dạng khô hoặc vết thương ướt. Có thể là bệnh cấp tính hoặc kinh niên và nguyên nhân thì không rõ. Nên đến bác sĩ để có biện pháp điều trị.

- Bệnh Hecpet (Cold Sores): biểu hiện bằng các vết rộp da và đau tấy vì viêm nhiễm do virut và xảy ra lặp đi lặp lại gần miệng và mũi, hiếm khi kéo dài hơn một tuần. Bệnh này có lây.

- Bệnh vẩy nến: thường thấy trên da đầu, khuỷu tay, đầu gối, ngực và lưng dưới. Dấu hiệu là những mảng đỏ có vẩy trắng bạc, nếu bị kích thích có thể chảy máu. Bệnh mày không lây.
(Theo Tiếp thị & Gia đình)

Tuổi teen có thể bị ung thư gì?



Ung thư hiếm khi xảy ra ở độ tuổi thanh thiếu niên, ví dụ như ung thư vú thường thấy ở phụ nữ trưởng thành nhiều hơn thiếu nữ. Tuy nhiên, có một số dạng ung thư mà tuổi này dễ gặp phải, chẳng hạn như ung thư tinh hoàn phổ biến ở tuổi choai choai hơn bậc cha chú.

Những dạng ung thư mà nhóm teen hay gặp có chung một đặc điểm, đó là liên quan đến tế bào - "viên gạch" xây dựng cơ thể. Ung thư xảy ra khi tế bào phát triển bất thường và tăng sinh vô độ. Dưới đây là một số dạng ung thư mà thanh thiếu niên có thể mắc, bao gồm các dấu hiệu cảnh báo, triệu chứng và cách điều trị.

U xương ác tính - Sarcoma xương

Đây là dạng ung thư xương phổ biến nhất ở nam thiếu niên, thường xuất hiện trong giai đoạn dậy thì. Nam bị u xương ác tính nhiều gấp đôi nữ và thường thấy ở những người có chiều cao vượt trung bình. Nguyên nhân gây bệnh có thể là do gene, hoặc là hậu quả của một dạng ung thư khác, ví dụ như retinoblastoma - u phát triển trong võng mạc có thể là tiền đề của bệnh u xương ác tính. Những thiếu niên được xạ trị để chữa loại ung thư khác thì nhiều khả năng sẽ bị u xương ác tính.

Những triệu chứng phổ biến nhất của u xương ác tính là đau và sưng ở một cánh tay hoặc cẳng chân, đôi khi đi kèm u bướu. Một số người bị đau về đêm hoặc khi tập thể dục. U xương ác tính thường xuất hiện ở các xương quanh đầu gối. Trong một số trường hợp hiếm gặp, khối u có thể di căn từ xương tới các dây thần kinh và mạch máu ở chi. Di căn là thuật ngữ được dùng khi các tế bào của một khối u vượt ra khỏi vùng ung thư ban đầu và "du ngoạn" tới các mô và tổ chức khác.

Cách điều trị u xương ác tính là hóa trị hoặc phẫu thuật lấy đi khối u. Trong một số ca hiếm gặp, khi mà những biện pháp này không hiệu quả, bác sĩ có thể tiến hành tháo khớp một phần hoặc toàn bộ chi. Có thể lấy đi đoạn xương bị ung thư và thay vào đó là một xương ghép hoặc đoạn kim loại đặc biệt.

Mất đi một chi là chuyện đau lòng đối với thanh thiếu niên, song nhờ thành tựu y học ngày nay, những trường hợp phải tháo khớp có thể được thay bằng chi giả. Phần lớn có thể trở lại cuộc sống bình thường và thậm chí chơi thể thao.

Trong quá trình điều trị, người bệnh khó tránh các phản ứng phụ như rụng tóc, chảy máu, nhiễm trùng và sự cố ở tim và da. Hóa trị cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển những dạng ung thư khác sau này.

Ung thư tinh hoàn

Đây là dạng ung thư phổ biến nhất thường gặp ở nam giới trong độ tuổi 15-35. Ung thư tinh hoàn luôn chữa khỏi nếu được phát hiện và điều trị sớm. Nam thiếu niên cần học cách tự kiểm tra tinh hoàn thường xuyên để phát hiện bất kỳ u cục bất thường - dấu hiệu sớm nhất của ung thư tinh hoàn.

Bệnh máu trắng - ung thư máu

Bệnh máu trắng là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở thanh thiếu niên, xảy ra khi số lượng tế bào bạch huyết tăng bất thường, xâm lấn tuỷ xương và đôi khi xâm nhập cả vào dòng máu.

Do những tế bào bạch huyết này có khiếm khuyết nên chúng không thể bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng như bình thường. Hơn nữa, do tăng sinh vô độ nên chúng xâm chiếm tuỷ xương và ngăn cản hoạt động sản xuất những tế bào quan trọng khác trong máu, ví dụ như tế bào bạch huyết và tiểu huyết cầu.

Bệnh máu trắng gây chảy máu, thiếu máu, đau xương và nhiễm trùng. Nó cũng có thể lan tới các tổ chức khác như hạch bạch huyết, gan, não, lá lách và tinh hoàn ở nam giới.

Những dạng ung thư máu thường xảy ra ở thanh thiếu niên là ung thư bạch cầu dạng nguyên bào lymphô cấp (ALL) và ung thư bạch cầu nguyên bào tuỷ cấp (AML).

Gần như tất cả những người bị ALL và AML đều được điều trị bằng hóa trị, số khác cũng có thể được cấy ghép tế bào gốc (trong đó bệnh nhân nhận tế bào gốc từ cơ thể khác). Các ca cấy ghép tuỷ xương cũng là một dạng cấy ghép tế bào gốc phổ biến. Một số bệnh nhân được xạ trị. Thời gian điều trị và loại thuốc phụ thuộc vào dạng ung thư.

Cơ hội chữa khỏi bệnh rất cao với một số dạng ung thư máu. Phần lớn bệnh nhân ALL và AML được phát hiện sớm có thể được chữa khỏi bệnh hoàn toàn và không bao giờ tái phát.

U não

Có hai dạng u não: u não sơ cấp (bắt đầu từ những tế bào trong não) và u não thứ cấp (đến từ một dạng ung thư khởi phát từ một phần khác của cơ thể và lan tới não).

Phần lớn u não thường gặp ở thanh thiếu niên là dạng sơ cấp. Hai trong số nhiều dạng phổ biến là astrocytomas (u não bắt nguồn từ những tế bào não tên là astrocyte, dạng này không di căn ra khỏi não và tuỷ sống, không ảnh hưởng các tổ chức khác) và ependymomas (bắt nguồn từ niêm mạc trong não thất).

Không ai biết chính xác nguyên nhân gây u não sơ cấp, song một khả năng là khi não và tuỷ sống đang hình thành thì đã xảy ra sự cố với các tế bào ở đây.

Có nhiều cách điều trị u não phụ thuộc vào dạng và vị trí của khối u. Nếu có thể cắt bỏ khối u, người ta sẽ thực hiện phẫu thuật, sau đó là phóng xạ. Một số bệnh nhân cũng được hóa trị. Cơ hội sống sót của một ca u não phụ thuộc vào dạng, vị trí và chất lượng điều trị. Nếu khối u được lấy đi và sau đó điều trị triệt để, căn bệnh này có thể được chữa khỏi hoàn toàn.

U lymphô

Đây là dạng ung thư phát triển trong hệ bạch huyết, bao gồm các hạch bạch huyết, tuyến ức, lá lách, vòm họng, amiđan và tuỷ xương. Hệ này có chức năng chống khuẩn gây nhiễm trùng và bệnh tật. Phần lớn thanh thiếu niên bị u lymphô sẽ phát triển thành hai dạng: bệnh Hodgkin (dạng ung thư của mô bạch huyết) và u lymphô phi Hodgkin (dạng ung thư của các tế bào trong hệ miễn dịch).

Bệnh Hodgkin thường xuất hiện ở các hạch bạch huyết ở cổ, nách, ngực... Các hạch này trở nên phình đại song không gây đau. Đặc trưng của bệnh Hodgkin là sự hiện diện của các tế bào lớn bất thường gọi là tế bào Reed-Sternberg. Hóa trị và xạ trị có thể dùng cho căn bệnh này.

Dạng u lymphô phi Hodgkin (NHL) gần giống như bệnh máu trắng ALL, bởi vì chúng đều liên quan đến các tế bào bạch huyết và có nhiều triệu chứng giống nhau. NHL thường được điều trị bằng hóa trị.

Sarcoma Ewing

Một dạng ung thư xương khác có tên là Sarcoma Ewing, gần giống với u xương ác tính ở chỗ chủ yếu ảnh hưởng thanh thiếu niên và thường xuất hiện ở chân hoặc khung xương chậu.

Phần lớn thanh thiếu niên mắc sarcoma Ewing được điều trị bằng hóa trị và phẫu thuật. Một số bệnh nhân cần xạ trị thêm để đảm bảo rằng các tế bào ung thư còn sót bị tiêu hủy hoàn toàn. Sarcoma Ewing thường phản ứng tốt với việc hóa trị và xạ trị.

U xương ác tính và sarcoma Ewing có chung các yếu tố nguy cơ và phản ứng phụ trong điều trị. Cơ hội phục hồi phụ thuộc vào vị trí của khối u, kích cỡ và khả năng di căn. Song cả hai loại ung thư này điều có thể chữa khỏi.

Sarcoma cơ vân:

Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên, trong đó các tế bào ung thư tăng trưởng trong mô mềm của cơ vân (cơ giúp con người kiểm soát cử động). Mặc dù dạng ung thư này có thể xảy ra ở khắp cơ thể, song chủ yếu tập trung ở các cơ thân, tay và chân. Cách điều trị và cơ hội phục hồi phụ thuộc vào vị trí u và khả năng xâm lấn.
(theo KSH)

Kiểm soát bệnh vẩy nến

Vẩy nến là căn bệnh ngoài da mãn tính mà các tế bào da mới lớn lên quá nhanh. Căn bệnh này gây ra các mảng khô, dày, có vảy ở da. Vẩy nến chỉ có thể chữa khỏi tạm thời một thời gian, nhưng sau đó lại tái phát.

Nếu bạn được chẩn đoán mắc bệnh vẩy nến thì đây sẽ là những điều giúp bạn kiểm soát sự căn bệnh này.

- Giữ cho da ẩm.

- Thoa kem và thuốc mỡ chậm và từ từ theo hướng dẫn.

- Tránh sử dụng nước quá nóng khi tắm.

- Dùng xà phòng và chất khử mùi trung tính.

- Sử dụng bàn chải với các lông chải mềm. Lau da nhẹ nhàng và để khô tự nhiên bất cứ lúc nào có thể.

- Tránh gãi hoặc gỡ da và làm da bị thương. Một tổn thương đối với da có thể gây ra các mảng vẩy nến.
(Theo Thanh nien)

Dược phẩm sinh học giúp chữa trị bệnh vẩy nến
Loại dược phẩm có nguồn gốc sinh học được coi là niềm hy vọng cho việc chữa trị căn bệnh vẩy nến. Người ta cho rằng điều này sẽ tạo nên cuộc cách mạng trong việc đưa ra một phác đồ mới cho căn bệnh tuy không nguy hiểm nhưng rất khó chịu này.

Chủ tịch Tổ chức về căn bệnh vẩy nến quốc gia, ông Gail Zimmerman, nói: ""Loại dược phẩm mới này sẽ đưa ra được sự lựa chọn mới cho các bệnh nhân đã không còn hy vọng. Đây là sản phẩm của một liên minh các hãng Biogen, Amgen, Johnson & Johnson và Genentech.

Bệnh vẩy nến có những biểu hiện đặc trưng như: có những mảng da tấy lên, xếp vảy như vảy cá, màu đỏ, gây khó chịu cho các bệnh nhân. Căn bệnh này tác oai tác quái trên 4,5 triệu người dân Mỹ. Theo tính toán của các nhà kinh tế, thị trường dược phẩm để chữa trị bệnh vẩy nến đạt tới 5 tỷ USD mỗi năm.

Loại thuốc ở dạng kem có thể chữa được các trường hợp ở thể nhẹ. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng loại thuốc bôi ngoài da dạng như methotrexate có thể có tính độc rất nặng. Bác sỹ Kenneth Gordon, một chuyên khoa da liễu ở Chicago, nói: ""An toàn là ưu điểm đầu tiên của loại dược phẩm này. Phương pháp dùng dược phẩm này cũng rất an toàn"".

Loại dược phẩm này trong thành phần có những hợp chất mang nguồn gốc thiên nhiên. Chúng được sử dụng để tăng cường cho các phân tử thuộc hệ thống miễn dịch trong cơ thể, nơi được coi là nguồn gốc của căn bệnh vẩy nến.
(Theo VietNamNet)

Thêm nỗi khổ cho người đã khổ




Giá thuốc và các vật dụng dùng cho người bệnh tại các nhà thuốc của bệnh viện thường cao hơn thị trường từ 20 - 30% trở lên, có những trường hợp cao hơn tới gần 300%! Thực trạng này vô nhân đạo ở chỗ, nó "đánh" trực tiếp vào các bệnh nhân - vốn là những người đã khốn khổ vì phải đối mặt với bệnh tật.

Và đối tượng phải "chịu đòn" nhiều nhất thường là những bệnh nhân cấp cứu, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc hoặc bệnh nhân ngoại tỉnh bệnh nặng, quê xa, tiền ít...

Biết đắt, vẫn phải mua

"Biết là giá bắt chẹt, nhưng chẳng lẽ lại đứng mặc cả trong khi con mình đang trong cơn nguy cấp!" - Đó là câu than vãn của chị Trần Thị Ngọc Giàu - ngụ quận 4 (TPHCM).

Chị Giàu phải đưa con vào cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Trãi vì bé bị chóng mặt, nhức đầu đến mức nôn ói. Bác sĩ chẩn đoán theo dõi rối loạn tiền đình. Toa thuốc khẩn cấp mà chị mua tại nhà thuốc trong bệnh viện gồm 3 thứ thuốc và một chai dịch truyền giá đã xấp xỉ 500.000 đồng - số tiền không nhỏ đối với một thợ may như chị.

"Tôi cũng đã nghe một vài người khuyên, nếu chịu khó chạy ra nhà thuốc ngoài bệnh viện sẽ mua được rẻ hơn - chị Giàu nói thêm - Nhưng lúc con mình đang đau, nằm chờ thuốc thì tâm trí đâu mà còn nghĩ đến chuyện chạy ra ngoài! Trước đây, chị gái tôi cũng đã từng lên bệnh viện Chợ Rẫy nằm điều trị mấy lần và bác sĩ chẩn đoán là viêm gan cộng với suy tim độ 1. Nào tiền cấp cứu tiền khám bệnh tiền xét nghiệm tiền nằm điều trị..., rồi hàng chục khoản không tên khác. Riêng tiền thuốc mỗi lần cấp cứu cũng phải mấy triệu. Riết chịu không nổi, chị tôi bỏ viện về nhà nằm... chờ chết. Hồi đầu năm nay, chị mất".

Những câu chuyện như vậy có thể nói là nhan nhản ở hầu hết các BV. Biết là giá thuốc của các nhà thuốc trong bệnh viện luôn đắt hơn bên ngoài, nhưng hầu hết người nhà các bệnh nhân cấp cứu đều đành chấp nhận.

Tâm lý chung là miễn sao cho người thân qua cơn nguy kịch, hoặc "còn người còn của", nên chẳng mấy người mua cự nự lúc mua thuốc tại nhà thuốc bệnh viện, cho đến khi mọi việc đâu vào đấy, ngồi tính lại mới "vỡ lẽ" mình đã bị các nhà thuốc "chém đẹp".

"Gà lạc"

Anh Lương Minh Trí (huyện Thanh Thuỷ - xã Phú Thọ) bị lao phổi, tháng nào cũng phải lên bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương (Hà Nội) chữa chạy. Sau mỗi lần khám, là một lần cầm đơn thuốc dài được bác sĩ kê, ra nhà thuốc bệnh viện.

"Mỗi lần mua tiền thuốc mất tới 1,3 triệu đồng. Nghe nói thuốc trên thị trường giá rẻ hơn đến 20%, nhưng dân tỉnh lẻ như tôi lại sợ lớ ngớ mua phải thuốc giả, nên đành nhắm mắt mua trong bệnh viện vậy. 6 tháng đầu điều trị, cộng cả tiền xét nghiệm, tôi đã phải chi trả khoảng 10 triệu đồng. Nhà làm ruộng, lại đau ốm, ăn chẳng đủ. Có bệnh thì phải vay nợ khắp nơi họ hàng làng xóm mà cố thôi... " - Anh Trí than.

Ông Nguyễn Văn C - một bệnh nhân đang trong giai đoạn hóa trị tại Bệnh viện Ung bướu TPHCM - kể, ông biết mình mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến được gần 1 năm qua. Sau khi được phẫu thuật, ông phải tiếp tục theo chương trình xạ trị và hóa trị.

Để có tiền phẫu thuật và điều trị đợt đầu tiên, gia đình ông C đã phải bán hết mấy công đất ruộng ở Long An. Rồi đất hết, mà bệnh thì vẫn còn. Hiện giờ mỗi lần hóa trị liệu là bốn người con của ông cùng nhau đóng góp.

Bà Hương - vợ ông, lên TPHCM chăm nuôi ông, tiếp lời: "Ban đầu tôi cũng nghe một số người bệnh và người nhà bệnh nhân mách nước là lại các nhà thuốc bên ngoài mua thuốc cho rẻ. Nhưng già cả lại dân tỉnh lẻ như tôi biết đường sá đâu mà đi, rồi sợ mua phải thuốc dỏm nữa thì chết...".

Chuyện của những người như anh Trí, ông C có thể gọi là "điển hình" của các bệnh viện lớn. Có bảo hiểm thì còn đỡ, nhưng những người dân tỉnh lẻ, với nghề nông chân lấm tay bùn thì mấy người biết đến bảo hiểm y tế tự nguyện để mà mua. Đến khi vướng vào bạo bệnh, phải lên bệnh viện tuyến cuối chữa chạy, thường thì đã rơi vào trường hợp nặng, phải phẫu thuật, hóa trị... đủ các kiểu, tiền bạc tốn không kể xiết.

Thống kê từ thực tế cho thấy, có đến hơn 70% người bệnh ở các bệnh viện tuyến cuối là dân ngoại tỉnh. Chả thế mà bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM cách khu trung tâm mua bán dược phẩm đường Lý Thường Kiệt không bao xa, hay ngay sát các bệnh viện lớn như Xanh Pôn, Việt Đức (Hà Nội) là một loạt các nhà thuốc bán lẻ ở Văn Miếu, Quốc Tử Giám, nhưng khi được hỏi, hầu như chẳng người dân ngoại tỉnh nào đi chăm nuôi bệnh nhân tại bệnh viện biết tìm đến để mua thuốc giá rẻ hơn.
Rõ ràng, giá thuốc tại các nhà thuốc trong bệnh viện đang đè thêm một gánh nặng nữa lên danh sách những khoản chi phi lý của bệnh nhân, khiến một số bệnh viện rơi vào tình trạng "tréo ngoe": Người bệnh thì tốn tiền, bệnh viện thì mất viện phí do tình trạng bệnh nhân hết tiền, thiếu viện phí đành bỏ trốn. Cuối cùng, thì chỉ có một vài cá nhân cấu kết với nhau để hưởng lợi từ nỗi khổ của người bệnh nói chung và bệnh nhân nghèo tỉnh lẻ nói riêng...
(Theo Dân trí)

13 năm ho triền miên không ngớt


Hiếm ai trên thế giới này thấu hiểu được nỗi khó chịu của cơn ho bằng thầy giáo Nicholas Peake ở trường ĐH Central Lancashire (Anh). Mười ba năm nay ngày nào với thầy cũng là ác mộng: mỗi tiếng ho đến hàng trăm lần. Cơn lao lực dai dẳng này chỉ dịu đi khi ngủ.

Mỗi sáng thức dậy, thầy Nicholas có đúng 15 phút ngắn ngủi sống trong yên bình. Và rồi “lũ quỷ” ập tới, chúng quấy nhiễu suốt cả ngày như không bao giờ biết mệt. Cách duy nhất có thể “ém” chúng lại là nhai kẹo cao su - thứ mà thầy ghét cay ghét đắng.

Xuất hiện trên một kênh truyền hình Anh cuối tuần trước, ông thầy 57 tuổi tỏ ra gần như tuyệt vọng: “Tôi đã quá mệt mỏi và kiệt quệ. Hôm nào tôi cũng chỉ có hơn chục phút thư thái, sau đó thì ho đến rát cổ nổ hầu trong suốt 1-2 tiếng đồng hồ, rồi thì triền miên cho đến tận lúc đi ngủ.

Nếu bất chợt chúng kéo đến vào giữa đêm thì cả đêm đó tôi không sao lại giấc được nữa. Là giảng viên nhưng tôi buộc phải làm cái điều tệ hại nhất trước toàn thể sinh viên: nhai kẹo cao su bỗ bã trong lúc giảng bài.

Tôi đã thử trăm phương ngàn kế, ai mách gì cũng làm theo từ thuốc tây, châm cứu cho đến phép chữa bằng vi lượng đồng căn… Tuy nhiên chưa có phương thuốc nào điều trị được dứt điểm.

Nếu như ai đó có thể chữa khỏi căn bệnh này, tôi sẵn lòng hậu tạ họ 5.000 bảng Anh bấy lâu dành dụm”.

Mới đây, thầy Nicholas đã chuyển hẳn vào Trung tâm điều trị phổi North West thuộc bệnh viện Wythenshawe để bắt đầu chương trình nghiên cứu với các chuyên gia trường ĐH Manchester University, với hy vọng tìm ra thuốc chữa bệnh ho kinh niên quái gở.

Theo ước tính, số nạn nhân đồng cảnh với thầy Nicholas chiếm khoảng 10-20% dân số thế giới. Không ít trong số họ thậm chí còn ho liên tục cả đêm.
“Tôi kết hôn với vợ tôi, Mary Rose mới được vài tháng, nhưng có vẻ như cô ấy cũng đã phát ốm với tiếng ho khùng khục rồi. Đáng buồn thay, cho đến thời điểm này bệnh ho kinh niên vẫn còn là một ẩn số với các bác sĩ và giới khoa học”.
(Theo Dân trí)

My Blog - Chụp XQ nhiều coi chừng bị nhiễm xạ


Ngày 17/9/07, lúc 20h, tôi tiếp nhận một bệnh nhân nữ nhà ở Q GV, bị sẩy thai khi thai được 12 tuần, hỏi lại bệnh sử, cách đây hai tháng Bn (thai 4 tuần) ho, sốt khạc đàm xanh kéo dài 1 tuần, đi khám phòng khám tư ở quận GV, TPHCM, được BS yêu cầu chụp XQ tim phổi thẳng, do BN không hiểu biết là chống chỉ định chụp XQ ở phụ nữ mang thai (nhất là 3 tháng đầu) và BS không hỏi bệnh nhân có mang thai hay không ? BN được chụp XQ tới hai lần (vì lần đầu hư phim). Cách đây 3 ngày, BN thấy ra máu ở âm đạo, đỏ bầm đen liền vàp viện. Khám BN, kết luận BN bị sẩy thai, BN được chuyển BV phụ sản HV điều trị tiếp.

--------> Thủ phạm gây nhiễm xạ chính là các phòng chụp X-quang không đạt chuẩn. Thời gian sử dụng của máy X-quang chỉ là 5-7 năm. Những loại máy thế hệ cũ cần được thay thế vì công suất thấp, phát ra nhiều chùm tia yếu (tia độc), khuếch tán đi nhiều nơi trong môi trường, khiến con người dễ bị nhiễm xạ. Theo công bố mới đây của Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ hạt nhân, tại nhiều phòng chụp X-quang ở Việt Nam, mức chiếu xạ đã vượt 2-5 lần giới hạn cho phép, có đến 55% phòng chụp X-quang ở Việt Nam không bảo đảm che chắn, 70% không đủ tiêu chuẩn về kích thước. Hơn 90% phòng chụp không có giấy phép hoạt động, nhiều thiết bị quá cũ kỹ, nhiều cơ sở y tế hiện vẫn sử dụng những máy X-quang quá đát, có chiếc đã 40 năm tuổi.

Bên cạnh việc dùng máy quá cũ, tình trạng bác sĩ lạm dụng chụp X-quang cũng là nguyên nhân gây nhiễm xạ cho bệnh nhân. Nhiều người đã chụp ở bệnh viện này nhưng khi đến bệnh viện khác, bác sĩ bắt chụp lại.

Tiến sĩ Phan Sỹ An, Đại học Y Hà Nội, cho biết tổn thương do phóng xạ ở người được biểu hiện bằng nhiều hình thức từ nhẹ đến nặng, phụ thuộc vào thời gian, diện tích và liều chiếu. Ở mức tế bào, tổn thương có thể gặp là tế bào bị chết, không phân chia được, rối loạn cơ chế di truyền. Ở mức toàn thân, tổn thương biểu hiện ở nhiều cơ quan:

- Máu và cơ quan tạo máu: Mô limpho và tủy xương ngừng hoạt động, làm cho số lượng tế bào trong máu ngoại vi giảm xuống nhanh chóng.
- Hệ tiêu hóa: Niêm mạc ruột bị tổn thương, dẫn đến tiêu chảy, sút cân, nhiễm độc máu, giảm sức đề kháng của cơ thể.
- Da: Xuất hiện ban đỏ, viêm da, sạm da. Các tổn thương này có thể dẫn đến viêm loét, thoái hóa, hoại tử hoặc phát triển thành khối u ác tính trên da.
- Cơ quan sinh dục: Vô sinh.
- Sự phát triển phôi thai: Phụ nữ bị chiếu xạ trong thời gian mang thai (đặc biệt là trong giai đoạn đầu) có thể bị sẩy thai, thai chết lưu hoặc sinh ra trẻ bị dị tật bẩm sinh.
Vndoc

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Herpes: Vô hại hay kẻ thù giấu mặt?


Thỉnh thoảng, một vùng mụn nhỏ xuất hiện ở viền môi rồi biến mất nhanh chóng… Nhiều người chủ quan, không biết rằng bệnh mụn rộp không chỉ làm gương mặt kém hoàn chỉnh mà còn thực sự là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

100% dân châu Á bị nhiễm

Bệnh mụn rộp là một bệnh rất phổ biến trên hành tinh chúng ta, nó được tìm thấy ở 50 – 80% dân châu Âu, tỉ lệ nhiễm ở châu Á là 100%. Nó tấn công cả nam và nữ. Những người hay bị bệnh có độ tuổi trung bình là 20-29 tuổi…

Trên 30% các trường hợp sảy thai, thất bại trong việc mang bầu có liên quan với virus này. Nó cũng dẫn đến 50% các trường hợp sinh non, bao gồm cả các trường hợp thai chết lưu trước khi chuyển dạ vài ngày.

Thai phụ bị nhiễm virus HSV cũng làm tăng nguy cơ nhiễm độc cho thai nhi tới 40%. Virus có thể thâm nhập vào bào thai qua cuống rốn hoặc từ âm đạo, cổ tử cung trong quá trình bé được đẩy ra. 85% số trẻ bị nhiễm virus này trong quá trình sinh ra và 5% trẻ bị nhiễm khi đang nằm trong bụng mẹ.

Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh do nhiễm herpes chiếm 5 - 70%, và chỉ có 15% số trẻ được cứu sống phục hồi sức khỏe hoàn toàn.

Hiện nay, virus này nằm trong nhóm các bệnh viêm nhiễm tác động tới hệ thần kinh trung ương (bao gồm cả não bộ), hệ hô hấp, hệ mạch, hệ tiêu hóa...

Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỉ lệ herpes sinh dục hiện đứng ở hàng thứ 3 trong số các bệnh lây qua đường tình dục ngày nay. Ở những trường hợp nặng, HSV tấn công vào nhiều cơ quan trong cơ thể cùng một lúc, bao gồm cả hệ miễn dịch, hệ thần kinh và cuối cùng, chúng sẽ rút vào vòng bí mật, chờ cơ hội mới. Các nhà khoa học khẳng định rằng virus herpes có khả năng liên kết nhanh và trở nên nguy hiểm hơn khi gặp virus HIV. HSV cũng liên quan tới quá trình phát triển một số bệnh ung thư…

HSV1 và HSV2

Ngày nay, có hơn 100 loại virus và chỉ có 8 trong số này gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, đặc biệt là HSV1 và HSV2:

- Virus herpes đơn hình týp 1 (HSV1) và là virus phổ biến nhất, có khả năng thâm nhập vào cơ thể giống như virus cúm hoặc lây khi tiếp xúc với da hay các chất dịch từ người bị bệnh. Và virus này có thể tồn tại trong cơ thể trẻ nhỏ, nhi đồng, thiếu niên, tất nhiên là dưới dạng “hoạt động bí mật”.

- Việc nhiễm virus herpes đơn hình týp 2 (HSV2) thường xảy ra ngay khi bắt đầu sinh hoạt tình dục. Virus sẽ xâm nhập qua da, qua sự tiếp xúc giữa 2 bộ phận sinh dục và cũng có thể đi vào cơ thể theo tinh dịch, các dịch ở mắt và mũi. Ở những cặp kết hôn, nếu 1 trong 2 người bị nhiễm thì nguy cơ lây cho đối tác là 10% mỗi năm.

90% không biết mình bị nhiễm HSV

Khi quan hệ tình dục đường miệng, nếu bộ phận sinh dục bị nhiễm bệnh, virus HSV sẽ theo nước bọt, khu trú trong miệng của đối tác với tỉ lệ nhiễm lên tới 99%.

Theo cách nhìn truyền thống, HSV1 sẽ khu trú ở nửa trên của cơ thể (từ phần eo trở lên), tấn công các vùng da, môi, miệng và giác mạc trong khi HSV2 khu trú ở phần dưới thắt lưng, nguyên nhân gây ra các bệnh đường sinh dục. Tuy nhiên, điều này không còn đúng với hiện nay nữa.

Cơ quan đầu tiên của cơ thể tiếp xúc với virus là hệ miễn dịch và virus sẽ bị suy yếu khi hệ miễn dịch đó đủ mạnh. Điều này giải thích một thực tế rằng tới 90% trường hợp không hề biết mình bị nhiễm bệnh do không có bất cứ biểu hiện nào. Trong số 9% những người bị nhiễm và bộc lộ ngay với các triệu chứng như khó ở, ốm yếu, mệt mỏi và một số triệu chứng khác có thể chẩn đoán. Chỉ 1% người bị nhiễm là có các triệu chứng điển hình của bệnh.

“Đồng minh” của HSV

Những vết phồng rộp nhỏ, chứa nước trong suốt nổi trên bề mặt da, gây ngứa, sưng và nề cả vùng da. Thường thì triệu chứng ngứa và sưng đỏ sẽ diễn ra trước khi các nốt phỏng rộp xuất hiện 1 - 2 ngày. Các nốt phỏng rộp cũng sẽ nhanh chóng vỡ và se lại sau đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng các virus này không còn tồn tại trong cơ thể mà chúng chỉ đi “ở ẩn”, chờ cơ hội mới như:

- Nhiễm trùng

- Căng thẳng, stress

- Mất thăng bằng giữa thể chất và tinh thần

- Vào kỳ kinh nguyệt

- Tiếp xúc với tia tử ngoại

- Uống rượu

- Uống một số loại thuốc

Trung bình một năm, bệnh sẽ tái phát khoảng 5 lần và thường ở cùng 1 vị trí. Nếu hệ miễn dịch bị suy yếu, bệnh có thể bùng phát, xuất hiện ở nhiều vùng da cùng 1 lúc.

Nếu hệ sinh dục bị nhiễm khuẩn, triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 1 - 10 ngày. Những người bị ốm có thân nhiệt cao hơn 38độ C sẽ làm cho các mụn rộp thêm lớn và đau nhức hơn.

Các đốm mụn rộp và vùng da đỏ thường xuất hiện ở bộ phận sinh dục. Trong suốt giai đoạn ngứa ngáy, tấy đỏ và thậm chí cả cảm giác đau không chỉ thấy ở bộ phận sinh dục mà nó còn lan sang cả vùng eo, xương cùng và phần dưới thắt lưng. Khi những đốm mụn rộp vỡ, những vết loét có thể xuất hiện và rồi khô thành vẩy.

Nếu bị mụn rộp lần đầu, thời gian phác tác của bệnh có thể kéo dài 3 - 5 tuần.

Những người nên làm xét nghiệm tìm virus herpes?

- Phụ nữ, những người đang muốn sinh bé

- Thai phụ nếu họ thấy có cái mụn nhỏ giống như mụn rộp.

- Thai phụ, chị em và cả nam giới nói chung, nếu đối tác trong quan hệ tình dục bị nhiễm herpes.

- Phụ nữ và nam giới bị bệnh hệ niệu - sinh dục mà không thể điều trị bằng kháng sinh (viêm bọng đái, viêm cổ tử cung ở phụ nữ)

- Trẻ sơ sinh có dấu hiệu bị bệnh herpes.

Nếu bạn đang muốn có bé, nên kiểm tra và điều trị bệnh mụn rộp khỏi hẳn trước khi mang bầu.

Tuy nhiên, nếu trước khi mang thai, người phụ nữ chưa từng bị bệnh mụn rộp thì sẽ nguy hiểm hơn những trường hợp đã từng bị do cơ thể họ chưa “quen” với bệnh này.

Tăng cường sức đề kháng

Thật không may, các loại thuốc tốt nhất hiện nay đều chưa thể loại bỏ virus herpes hoàn toàn khỏi cơ thể nhưng bạn có thể ngăn ngừa bệnh hiệu quả vào những thời điểm nhạy cảm.

Việc điều trị bệnh mụn rộp hiện nay bao gồm cả việc dùng thuốc, ngăn chặn quá trình sản sinh của virus và tăng cường sức đề kháng (bao gồm cả việc tạo ra “hàng rào” bảo vệ cơ thể như: chế độ vận động, vệ sinh thích hợp; dinh dưỡng cân bằng, giàu vitamin và vi chất, không hút thuốc, uống rượu…).
(Theo Womanpassion)

ANGELA SLIM - Sản phẩm Viên sủi giảm 10 cân sau 3 tháng sử dụng

Viên sủi giảm cân Angela Slim có tốt không vẫn nhiều chị em thắc mắc về sản phẩm này khi được biết viên uống giảm mỡ bụng ...