Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Tàn nhang dễ nhầm với bệnh da nguy hiểm



Tàn nhang thực sự không ảnh hưởng sức khỏe nhưng lại dễ bị nhầm lẫn với những bệnh nặng hơn như nốt ruồi ác tính, ung thư da... Vì vậy nếu bạn có một hay nhiều đốm sắc tố mà không chắc chắn là tàn nhang thì nên đến bác sĩ da liễu để khám.

Tàn nhang là một khuyết tật nhỏ ngoài da, liên quan chủ yếu tới sự tăng trưởng sắc tố ở lớp đáy và lớp trung bì. Nó là những chấm nhỏ màu nâu hình tròn, phẳng có đường kính dưới 0,5 cm, thường thấy ở vùng da mặt, cổ vai và mu bàn tay sau khi tiếp xúc với ánh nắng.

Tàn nhang thường gặp ở những người có làn da trắng, mỏng, mịn; có tính di truyền. Tuổi càng cao, các nốt tàn nhang càng sẫm màu hơn. Bệnh tăng về mùa hè và giảm về mùa đông. Tàn nhang chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ chứ không gây hại sức khỏe.

Nốt tàn nhang thường nổi rõ khi cơ thể gầy yếu và mờ đi khi cơ thể khỏe mạnh. Do đó, để tàn nhang đỡ ảnh hưởng đến mặt thẩm mỹ, vấn đề chủ yếu là phải tăng cường sức khỏe toàn thân. Tàn nhang có nhiều màu: đỏ, vàng, nâu sậm, nâu nhạt, nâu hay đen...; chúng luôn luôn đậm hơn màu da xung quanh do lắng đọng sắc tố melanin.

Cần phân biệt tàn nhang với nốt ruồi - những chấm tăng sắc tố (màu đen) gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào và xuất hiện bất kỳ vị trí nào trên cơ thể. Tàn nhang cũng rất dễ nhầm với nám má - những đốm, dát màu nâu đường kính rộng vài cm, thường xuất hiện ở 2 má, vùng thái dương và trán của phụ nữ có thai, mãn kinh hoặc đang uống thuốc tránh thai. Ngoài ra, cũng cần phân biệt tàn nhang với các bệnh lý sau:

Nốt ruồi son ác tính: Đây là bệnh hiếm xảy ra, thường ở trên mặt người già có tiền sử tiếp xúc với ánh nắng nhiều. Sau nhiều năm, nếu không điều trị, bệnh này có thể diễn tiến thành ung thư ác tính.

Melanom: Một dạng ung thư da rất nguy hiểm có thể xuất hiện ở những người trẻ. Khoảng 40-50% melanom phát triển từ nốt ruồi. Tuy nhiên, so với tàn nhang thì melanom có khuynh hướng lớn hơn, đen hơn và không có hình dạng màu sắc nhất định như một tàn nhang bình thường.

Ung thư tế bào đáy: Là ung thư da thường gặp nhất. Nó thường đỏ hay óng ánh, nhưng thỉnh thoảng nó trở nên nâu làm nhầm lẫn với tàn nhang.

Có hai loại tàn nhang

Chấm tàn nhang: Những đốm phẳng màu đỏ hay nâu nhạt, xuất hiện trong những tháng hè nhiều ánh nắng và biến mất hay phai nhạt trong mùa đông. Tàn nhang này thường thấy ở những người có nước da sáng và trong một vài gia đình, chúng có tính di truyền. Che chắn trong thời gian tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để ngừa sự xuất hiện những tàn nhang dạng chấm.

Nốt ruồi son: Trẻ em có thể xuất hiện một đốm nâu sậm, nâu hay đen có khuynh hướng tối hơn chấm tàn nhang và không mất hay phai màu trong mùa đông. Đốm dạng này được xem như là nốt ruồi đơn thuần. Tính di truyền của nốt ruồi hiếm và chúng thường xuất hiện từng nốt đơn độc.

Tàn nhang có khuynh hướng xuất hiện bất kỳ lúc nào, nó không là dấu hiệu của tuổi già. Thỉnh thoảng, những nốt ruồi son ở người già trở thành màu nâu, tổn thương vảy khô gọi là dày sừng bã đậu. Dày sừng bã đậu trông giống như sáp, có thể xảy ra cùng vị trí tàn nhang nhưng nguyên nhân không phải là ánh sáng mặt trời, chúng có thể xuất hiện ở những vùng được che phủ.

Điều trị và phòng ngừa

Tàn nhang có chiều hướng tiến triển cùng với ung thư da nhạy cảm với ánh nắng. Đây cũng là dấu hiệu báo động cho những người có làn da dễ bị tổn thương do ánh nắng và ung thư da.

Có thể sử dụng các hóa chất làm nhạt màu tàn nhang (như sử dụng ôxy già, thủy ngân), phương pháp này tự làm ở nhà cũng được. Một số trường hợp có thể dùng phương pháp laser. Nếu tàn nhang mọc nhiều và sậm màu, việc điều trị cần đến một số thuốc, mỹ phẩm... với sự chỉ định hướng dẫn, rõ ràng của bác sĩ chuyên khoa.

Tuy nhiên, các phương pháp điều trị tàn nhang bằng hóa chất như bôi dung dịch chỉ có thể làm nhạt bớt màu, chứ không thể ngăn chặn sự xuất hiện các nốt tàn nhang mới. Phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang, nhưng nếu làm không cẩn thận sẽ rất dễ để lại trên da những vết sẹo thâm hoặc sẹo giảm sắc tố, làm giảm thẩm mỹ.

Chính vì thế, việc phòng ngừa luôn tốt hơn là để tàn nhang xuất hiện rồi sau đó điều trị. Những người có yếu tố di truyền bị tàn nhang nên che chắn bất cứ khi nào thích hợp và hạn chế tiếp xúc tối thiểu với ánh nắng mặt trời. Việc làm này giúp ngăn chặn phát sinh tàn nhang và quan trọng hơn nữa là giảm nguy cơ ung thư da.

Cần tránh nắng bằng cách đội nón mũ rộng vành, đi găng tay, dùng kem chống nắng có chỉ số SPF lớn hơn 15 (bôi vào vùng da hở trước khi ra nắng 20-30 phút), tránh làm việc ngoài trời từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Ngoài ra, có thể dùng kem làm trắng da chứa hydro quinone 2% hoặc vitamin A vào các buổi tối trước khi đi ngủ.
(Theo Người Lao Động)

Xoá tàn nhang



Tuổi đôi mươi, vài vết tàn nhang trên đôi má hồng sẽ làm thiếu nữ càng thêm duyên dáng. Tuy nhiên, vết tàn nhang quá to và dày lại khiến nhiều người phiền lòng, nghe mách thuốc gì cũng bôi hoặc uống. Các dược sĩ giới thiệu 2 loại thuốc trị tàn nhang dưới đây.

Thuốc uống: Rượu thuốc và thuốc hoàn

Công thức: Nhung (hươu hoặc nai) thái lát mỏng 40g, hoài sơn (tốt nhất là củ mài núi, thái mỏng phơi khô) 50g, làm thành bột thô (giã dập, to bằng mảnh ngô xay). Cho vào bình sạch, có nắp đậy kín rồi đổ vào hơn 1 lít rượu 35o (1.100ml). Ngâm trong 10 ngày, cứ 2 ngày lắc bình một lần, sau đó gạn rượu sang một chai khác, đổ bã ra ép cho hết rượu (nước rượu ép ra để riêng dùng trước). Bã đem phơi hoặc sấy cho ráo nước rồi thêm mật ong đủ ngọt làm thành 50 viên hoàn.

Liều dùng: Mỗi ngày uống rượu thuốc 2 lần. Mỗi lần 10ml pha loãng với nước cơm hoặc nước sôi để nguội (nếu không uống được rượu) sáng và tối. Thuốc hoàn uống 1 viên vào buổi trưa.

Thuốc đắp mặt
Tỏi ta bóc vỏ 10-20g. Giã nát tỏi rồi thêm một chén nước sôi 30-60ml nghiền kỹ, lọc lấy nước bỏ bã. Cho bột mì khoảng 20-40g (tuỳ theo diện tích da bị tàn hương hẹp hay rộng) đánh kỹ, tạo thành hồ sền sệt. Bôi hồ tỏi lên da nơi bị tàn hương (tránh giây vào mắt) thành một lớp mỏng đều. Để yên 40-60 phút sẽ khô, khi đó bóc bỏ lớp hồ tỏi đi.

Mỗi ngày đắp thuốc một lần vào buổi tối trước khi tắm. Sau khi lột thuốc đắp, tắm rửa bình thường.

Tẩy mùi tỏi bằng nước chè xanh: Rót một cốc nước chè tươi xanh, dùng bông thấm nước tẩm đẫm nước chè, cọ nhẹ vào chỗ bôi hồ tỏi (nếu không có chè tươi, pha chè lá hoặc chè búp hơi đặc cũng được) sẽ hết mùi.

Chế độ ăn uống
Ăn nhiều rau quả, uống đủ nước hàng ngày, tránh táo bón.
(Theo Sức khoẻ & Đời sống)

Không stress sao vẫn bị mụn?



Bạn có tâm trạng thoải mái, không ăn đồ nóng và chất kích thích, cũng chẳng phải trong giai đoạn "đặc biệt" của tháng; ấy thế mà phần “mặt tiền” vẫn cứ như đường có ổ gà.

Cần xem lại một số thói quen và hoá mỹ phẩm mà bạn sử dụng. Hãy lập tức kiểm tra một số đồ dùng sau:

Chiếc điện thoại: Khi áp má vào chiếc điện thoại, mỹ phẩm và chất dầu trên mặt sẽ bám vào điện thoại và qua vài lần như vậy, điện thoại sẽ rất bẩn. Khi dùng nó, mặt bạn đã hứng nhận vô vàn vi khuẩn gây mụn. Hãy dùng một miếng bông tẩm cồn lau sạch bàn phím điện thoại di động hoặc ống nghe điện thoại, nếu không thì để xa xa ra một chút khi gọi.

Gel dưỡng tóc, dầu dưỡng ẩm: Mùi hương và chất dầu có thể theo mồ hôi chảy xuống tóc mai của bạn. Vì thế, một số bạn gái bị nổi mụn ở hai bên mang tai. Bạn nên hạn chế sử dụng hoặc thử đổi sang dùng loại khác.

Kem chống nắng: Với làn da quá nhạy cảm, đôi khi kem chống nắng có thể gây dị ứng. Nếu mặt bạn có tiền sử nổi mụn, hãy mua kem chống nắng chứa thành phần titanium dioxide và zinc oxide.

Chống má chống cằm: Bạn không sờ hẳn ngón tay lên mặt nhưng mu bàn tay thì lại thường xuyên tiếp xúc với má và cằm. Hãy bỏ bàn tay ra khỏi "khu vực cấm" ngay lập tức!
(Theo Đẹp)

Vết nhăn - sẹo



Chữa vết nhăn bằng đèn hồng ngoại

Theo kết quả một cuộc nghiên cứu do hai bác sĩ mắt của Anh tiến hành, đèn hồng ngoại có thể làm giảm đáng kể vết nhăn trên gương mặt con người.

Cuộc nghiên cứu tập trung vào vùng da quanh mắt, trong đó những người tình nguyện được chiếu ánh sáng hồng ngoại thông qua một thiết bị xách tay tên Restorelite từ 15 đến 30 phút mỗi ngày trong vòng 2 tháng. 95% những người tình nguyện cho biết đèn hồng ngoại đã mang lại sự khác biệt cho gương mặt của họ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho biết việc loại bỏ hoàn toàn các nếp nhăn bằng Restorelite là điều không tưởng.
(Theo BBC)

Bảo vệ sẹo khỏi nắng

Muốn giữ cho vết sẹo không trở nên quá tồi tệ, hãy che chở nó khỏi ánh nắng mặt trời. Theo các nhà khoa học Mỹ, những tổn thương do tia nắng gây ra trên sẹo sẽ âm ỉ hơn so với sự cháy nắng thông thường.

Trong quá trình lành sẹo, có một số yếu tố gây ảnh hưởng đến hình thù của nó. Gene và bản chất của vết thương là những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của người bệnh. Song có thể cải thiện được tình hình nhờ các biện pháp chăm sóc đặc biệt, trong đó có việc bảo vệ nó dưới ánh nắng mặt trời.

Theo Viện Da liễu Mỹ, sẹo đặc biệt nhạy cảm với tia nắng và dễ bị cháy nắng hơn bất kỳ vùng da khỏe mạnh nào. Một khi đã tổn thương, các vết sẹo cũ sẽ không nhạt màu, còn vết mới thì trở nên đen thâm lại và khó trở lại màu da bình thường.

Vì lý do đó, cần tuyệt đối tránh cho vết sẹo mới tiếp xúc với ánh nắng. Hãy bảo vệ nó bằng cách mặc áo dài tay, quần dài và đội mũ rộng vành. Có thể dùng thêm kem chống nắng nếu trang phục không đủ hiệu quả. Nên sử dụng loại kem có chứa kẽm và titan, hoặc có độ SPF từ 15 trở lên. Ngoài ra, có thể tăng cường tốc độ lành sẹo bằng cách massage từ 5 đến 10 phút mỗi ngày. Nếu là vết sẹo khâu thì cần tránh hoạt động mạnh trong ít nhất 2 tuần.
(theo HealthDayNews)

Các thuốc gây sạm da

Một số thuốc có thể gây sạm da, khiến bệnh nhân sốt ruột tự tìm cách chữa, nhiều khi dẫn đến hậu quả xấu. Cách ứng xử đúng nhất là ngừng thuốc (nên hỏi ý kiến bác sĩ điều trị để có thể đổi thuốc) và kiên nhẫn đợi một thời gian. chứng sạm sẽ hết dần.

Thuốc tạo điều kiện làm sạm da

Các thuốc này không trực tiếp gây sạm da nhưng tạo điều kiện cho các tác nhân khác gaya ra hiện tượng này. Ví dụ: khi dùng acid citric, acid malic, tatric (trong kem AHA), aspirin, acid salycylic, chúng bóc các tầng bì thành lớp mỏng (lột da) làm cho tế bào biểu bì mới (da non) lộ ra. Sau đó, tia cực tím trong nắng tác dụng lên lớp biểu bì mới, gây sạm da.

Phần lớn các loại thuốc dùng ngoài hay mỹ phẩm chứa dược chất, chất phụ gia có thể gây dị ứng cho một số người; thường là mẩn đỏ, phát ban, làm bong da, lở loét..., dẫn đến sạm da. Đây là những trường hợp sạm da thứ cấp, có thể tránh được như kiêng nắng sau khi dùng thuốc lột, chọn lựa thuốc thích hợp để tránh dị ứng (dựa vào tiền sử bệnh tật, dùng thử phạm vi nhỏ).

Thuốc trực tiếp gây sạm da

Thuốc chữa loạn thần clopromazin và thuốc chữa dị ứng phenothiazin: Làm tăng tính nhạy cảm của da với ánh sáng. Khi dùng liều cao, kéo dài, đặc biệt là có ra nắng thì sẽ bị sạm đen trên vùng da hở. Phải ngừng thuốc khá lâu, sạm mới hết; có trường hợp sạm chỉ mất đi một phần.

Thuốc sốt rét chloroquin hay hydrochloroquin: Sau nhiều tháng dùng thuốc, bệnh nhân sẽ bị sạm da màu đen ở phía đùi, niêm mạc vòm miệng, mặt và nền các móng. Khi ngừng thuốc, vết sạm chỉ giảm được một phần.

Khi phát hiện sạm da do hai nhóm thuốc trên, cần kiểm tra mắt để phát hiện đục giác mạc, thủy tinh thể và bệnh võng mạc.

Thuốc chữa phong clofazimine (lamprène): Thường xuất hiện sạm da màu đỏ da cam lan tỏa sớm, rồi sạm màu nâu tím (xám đen) trên các tổn thương. Ngừng thuốc, sạm sẽ giảm dần nhưng có khi phải mất một thời gian dài.

Các thuốc nhóm kháng sinh cyclin: Nhóm thuốc này làm tăng nhạy cảm của da đối với ánh nắng. Khi dùng liều cao, dài ngày mà ra nắng thì dễ bị sạm da vùng da hở. Mynocyclin (phụ trị bệnh trứng cá) làm xuất hiện sạm da màu xanh đen trên các sẹo trứng cá hoặc mặt trước của đùi. Metacyclin gây sạm da màu xám đen nhạt trên các vùng da hở. Khi ngừng thuốc, vết sạm sẽ giảm từng phần.

Thuốc chống động kinh hydatoin: Tác dụng trực tiếp trên hắc tố bào, đặc biệt khi dùng thuốc mà ra nắng thì sẽ bị sạm giống như nám da mặt, sạm da màu nâu ở trán, má và cằm. Ngừng thuốc vài tháng sạm sẽ hết dần.

Thuốc azidothymidin chữa AIDS: Gây sạm móng màu nâu nhạt.

Sạm da hiếm khi xảy ra khi dùng với liều và thời gian điều trị thông thường. Bởi thế, nhiều tài liệu hướng dẫn dùng thuốc không đề cập đến tác dụng phụ này. Tuân thủ đúng liều và thời gian điều trị là biện pháp chủ động tránh sạm da. Nên tránh trường hợp vì không biết mà dùng liều cao, kéo dài (như uống thuốc phòng sốt rét triền miên không theo đúng hướng dẫn).

Đa số trường hợp sạm da sẽ hết hoàn toàn hoặc hết một phần, sớm hay muộn tùy loại. Nếu phát hiện thấy sạm da thì ngừng thuốc ngay nhằm tránh sạm da rộng. Nếu cần tiếp tục điều trị, thầy thuốc có thể có những thay đổi cần thiết.

Kiên nhẫn chờ đợi một thời gian sau khi ngừng thuốc, sạm sẽ hết dần. Có người bệnh tự ý dùng vitamin C hoặc bôi thuốc chống dị ứng. Vitamin C không thể chữa sạm da, nếu uống liên tục liều cao có thể gây sỏi thận, tiêm vào tĩnh mạch có thể bị tai biến. Thuốc chống dị ứng cũng chữa không khỏi sạm da mà còn có thể gây sạm theo cơ chế khác. Ví dụ: Dùng lâu dài thuốc chống dị ứng corticoid sẽ làm giảm sức đề kháng của da, khiến da dễ bị nhiễm khuẩn, giảm sức căng, nhăn nheo, hoại tử tế bào, lở loét, cuối cùng làm sạm da.

Sạm da khó chữa khỏi bằng thuốc. Tuy nhiên, một số người nếu dùng loại hỗn hợp nhiều vitamin và kiêng nắng thì sự hồi phục sẽ nhanh hơn.
(Theo Vnexpress)

Bào da



Bào da là gì?

Bào da là một kỹ thuật đã được kiểm chứng trên lâm sàng nhằm điều trị các vết nhăn, tàn nhan, rỗ, và những vùng tăng sắc tố.

Kỹ thuật này cải thiện bề mặt da, cho phép da tái tạo tự nhiên để làm giảm các khuyết điểm. Quá trình này có thể làm tăng tới 30% độ đàn hồi của da, phục hồi sự tự tin trên khuôn mặt bạn.

Phương pháp này không xâm lấn, được thực hiện nhờ hút các tinh thể trông giống như tinh thể đường. Những tinh thế này đi qua da với vận tốc cao làm bào mòn da.

Quá trình này kích thích tuần hoàn bên dưới, tạo cho da một sức sống mới. Không như tia laser, phương pháp này không tạo ra nhiệt do đó có thể thực hiện tại bất cứ nơi nào trên cơ thể cũng như không cần phải vô cảm, không cần tốn thời gian lành, và có thể thực hiện vào giờ nghỉ trưa. Kết quả có ngay lập tức với làn da mịn, hồng với sự cải thiện về trương lực và bề mặt da.

Phương pháp này có gây đau không?

Phương pháp này chỉ gây một cảm giác như bị kiến cắn nhẹ, tương tự như cảm giác bị giọt mưa rơi vào.
Tôi cần điều trị bao lâu để có một khuôn mặt mang sức sống mới?

Số bước điều trị phụ thuộc vào loại da và tình trạng da. Kết quả thường có ngay lập tức; tuy nhiên, cần trung bình từ 5 lần hoặc hơn, chiếm khoảng 2-3 tuần để đạt đựơc cải thiện rõ nét. Điều trị duy trì mỗi 4-6 tuần có thể được để giữ được sự cải thiện.
Cần bao lâu để phục hồi sau điều trị?

Không cần phải chờ. Bạn sẽ cảm thấy tương tự như bị cháy nắng nhẹ cũng như thấy da căng. Bạn có thể trang điểm hoặc dùng chất làm ẩm trên vùng điều trị và trở lại với các hoạt động thường ngày.
(Sức khỏe và đời sống)

7 loại thức ăn lành mạnh



Một nghiên cứu được công bố trên tờ báo của Hội Nội khoa Mỹ cho biết, có 7 loại thức ăn giúp giảm 30% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân nếu được sử dụng thường xuyên. Đó là tỏi, trà xanh, dầu ô liu, nho đỏ, ngũ cốc nguyên cám, nước toàn vẹn và kem - chocolate.

Viện Quốc gia Y tế Mỹ trong một báo cáo gần đây đã báo động bệnh tiểu đường type 2 đang đe dọa đến 16 triệu người dân Mỹ thuộc đủ các sắc tộc. Và con số này ngày càng gia tăng, nguyên nhân chính xuất phát từ bữa ăn hằng ngày: ăn quá nhiều calo “rỗng”, thiếu vi chất dinh dưỡng; ít hoạt động chân tay. Nếu giảm thiểu được nguy cơ bị tiểu đường type 2, chúng ta sẽ phòng tránh được rất nhiều bệnh “ăn theo” như bệnh tim, ung thư, béo phì, những tình trạng mất quân bằng nội tiết và nhiều bệnh khác...

Các thực phẩm sau giúp giảm nguy cơ tử vong, nhất là tử vong do các bệnh nói trên:

1. Tỏi (garlic): Có thể nói tỏi là thức ăn có tác dụng chống lại bệnh tật mạnh nhất. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh hiệu lực của nó, nhất là đặc tính kháng virus (tỏi diệt được các virus gây cảm, cúm). Tiến sĩ James North, một nhà vi sinh vật học thuộc Đại học Brigham Young, khuyên: “Khi cảm thấy bắt đầu đau họng, bạn hãy ăn ngay tỏi là có thể hết hẳn”.
2. Trà xanh (green Tea): Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học bang Kansas gần đây đã tiến hành định lượng một chất kháng ôxy hóa trong trà xanh và phát hiện rằng, chất này trong trà có hiệu lực gấp 100 lần vitamin C và 25 lần vitamin E trong việc bảo vệ các tế bào chống lại tổn thương mà chúng ta nghĩ có liên quan với bệnh ung thư, bệnh tim và những bệnh khác.
3. Dầu ôliu sống đặc biệt (extra virgin olive oil): Theo các chuyên viên tiết thực, dầu ôliu có tác dụng tăng cường sức khoẻ của bạn gấp đôi; trong khi các chất béo “no” ở thịt và các sản phẩm từ sữa nguyên kem làm tăng hàm lượng cholesterol xấu LDL, hạ thấp cholesterol tốt HDL. Các chất béo có nhiều nối đôi (như trong dầu bắp hay dầu đậu nành) làm hạ được thành phần LDL, nhưng lại cũng làm hạ luôn cả HDL. Chỉ có dầu ôliu giàu acid oleic có 1 nối đôi là làm hạ thành phần LDL mà không ảnh hưởng gì đến HDL. Dùng nhiều lạc tươi cũng có thể thay thế dầu ôliu (rất đắt tiền) vì thành phần acid oleic của dầu lạc cũng chẳng thua dầu ôliu là bao.
4. Nho đỏ (red grapes): Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh việc uống rượu chát với mức độ vừa phải sẽ giúp tăng sức khỏe và tuổi thọ. Tác dụng này có liên quan tới đặc tính kháng ôxy hóa mạnh của những chất có trong nho đỏ - gọi là các bioflavinoids.
Hiện nho đỏ đã trồng và phát triển ở Việt Nam, được các nhà sản xuất chế biến thành rượu chát khá ngon theo công nghệ của Pháp. Ngoài ra, chúng ta còn có thể tận dụng quả dâu tằm (cũng giàu bioflavonoids) để làm rượu, giúp tăng sức khỏe và tuổi thọ.
5. Ngũ cốc nguyên cám (whole grains): Năm 1999, một công trình nghiên cứu của Đại học Minnesota đã khám phá việc ăn các hạt ngũ cốc nguyên cám sẽ giúp tăng tuổi thọ, vì chúng chứa những tác nhân chống ung thư, ổn định các mức nồng độ huyết đường lượng và insulin trong máu.
6. Nước toàn vẹn (whole water): Dù nước không được xếp là thức ăn, song đây là một thành phần rất quan trọng cho sức khỏe. Một loạt các nghiên cứu mới đây đã cho thấy nước toàn vẹn có những lợi ích rất tốt cho sức khỏe. Ở Mỹ hiện chỉ có hai loại nước toàn vẹn được chứng nhận, đó là nước Evian và Trinity Springs, được khai thác từ nguồn có độ sâu nhất thế giới. Còn ở Việt Nam có các nhãn hiệu La Vie, Dapha, Vĩnh Hảo….
7. Kem và chocolate: Nhiều công trình nghiên cứu y khoa đã cho thấy các chất phenylethylamines tìm thấy trong chocolate rõ ràng có tác dụng làm thoải mái tinh thần. Nhiều tài liệu cũng chứng minh, từ xưa, người dân Aztec đã sử dụng cacao như một vị thuốc. Năm 1788, bác sĩ nổi tiếng người Pháp Francis Joseph Victor Broussais đã nói về tác dụng của chocolate như sau: “Chocolate chất lượng tốt có tác dụng hạ sốt và giúp người bệnh mau phục hồi sức khỏe”.

Viện Pasteur TP. HCM

Làm thế nào để trị mụn cóc?



Theo Học viện Phẫu thuật chỉnh hình Mỹ, mụn cóc ở chân là loại mụn cóc thường mọc ở lòng bàn chân và giống như bị chai cứng. Đây là một loại nhiễm trùng do vi-rút gây ra, trên thực tế chúng mọc ở bên trong do sức nặng của cơ thể khi người đó di chuyển.

Nếu bạn có một hay nhiều mụn cóc, bạn có thể trải qua cảm giác rất đau nhức khi bước đi. Tuy rất khó triệt được loại mụn cóc này, nhưng có thể chữa trị thành công nếu nhỏ axít salixilic (C7H6O3) liên tục để làm mềm phần mụn cóc bị chai cứng và để lộ ra chỗ bị nhiễm trùng.

Ngoài ra, còn có thể sử dụng các phương pháp điều trị khác như tiêm thuốc vào mụn cóc, làm tê liệt mụn cóc bằng ni-tơ lỏng và cuối cùng là phẫu thuật.
(Theo HealthDayNews)

Giải mã gene của vi khuẩn gây mụn

Thế giới gene đầy phức tạp của loài vi khuẩn chuyên gây mụn vừa được hé mở. Các nhà khoa học tìm thấy một số loại giúp khuẩn tấn công da, số khác kích thích sự viêm nhiễm.

"Thật bất ngờ về số lượng gene của khuẩn Propioni trong hoạt động phá huỷ mô da", tiến sĩ Holger Bruggeman, Đại học Georg-August, Đức, nói. 2.333 gene đã được nhận diện, mỗi gene có chức năng riêng, trong đó có loại còn hỗ trợ các enzyme tấn công da.

Khuẩn Propioni là tác nhân gây mụn ở người trưởng thành, sống trong các tuyến dưới da và sinh dầu ở các nang lông. Các bệnh da liễu do Propioni gây ảnh hưởng tới 80% thanh thiếu niên, thậm chí cả những người lớn tuổi. Bệnh thường bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn dậy thì, khi các tuyến dưới da sản sinh dư thừa mỡ. Chính các tế bào da chết cùng với mỡ đã bít lỗ chân lông trên vùng mặt, lưng, ngực và sinh mụn.

Nguyên nhân khiến một số người rất dễ nổi mụn vẫn còn là ẩn số, song hệ miễn dịch có thể đóng vai trò. "Ngay khi khuẩn Propioni tấn công, sự viêm nhiễm cũng nhảy vào cuộc. Lúc này, sức miễn dịch của từng cơ thể sẽ quyết định khả năng sinh mụn", Bruggeman giải thích. Sở dĩ mụn diễn ra phổ biến ở tuổi dậy thì có thể là do khi đó da sản xuất nhiều dầu - "món khoái khẩu" của khuẩn Propioni.
(Theo BBC)

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Cách trị mụn đơn giản



Mụn có thể trị bằng lá mướp non. Lá hái xong rửa sạch để ráo, giã vắt lấy nước cốt. Sau khi rửa sạch mặt và lau lại bằng nước hoa hồng, bạn thoa nước cốt lá mướp lên chỗ có mụn.

Lương y Nguyễn Công Đức, Đại học Y dược TP HCM giới thiệu một số cách trị mụn đơn giản mà hiệu quả khác:

Giấm lâu năm và trứng gà

Nguyên liệu: Giấm ăn để lâu năm (khoảng 3 năm) 200 ml, trứng gà - 1 quả. Lấy trứng gà ngâm vào giấm 3 ngày 3 đêm, khi nào bóp thấy quả trứng mềm là được.

Vớt trứng gà ngâm từ trong giấm ra, đậy kín để dùng dần. Lấy lòng trắng trứng gà thoa lên chỗ bị mụn. Nhớ trước đó lau vùng da mặt cho sạch với nước cồn hoa hồng (hoa hồng ngâm với cồn thực phẩm) hoặc nước giấm bạch truật (giấm ăn ngâm với vị thuốc bạch truật), lau khô. Rửa sạch mặt với nước ấm.

Lòng trắng trứng và quả hạnh nhân

Nguyên liệu: Lòng trắng trứng gà 1 cái, hạnh nhân 20 g.

Hạnh nhân đem sao cho tróc vỏ, bỏ vỏ, giã nhuyễn, rồi trộn đều với lòng trắng trứng. Buổi tối trước khi ngủ, dùng nước cồn hoa hồng lau sạch da mặt rồi thoa hỗn hợp trên lên mặt, để đến sáng hôm sau rửa sạch với nước ấm và lau khô bằng nước cồn hoa hồng.

Lá nha đam (lô hội)

Mỗi ngày dùng 200 g lá nha đam tươi rửa sạch, cắt bỏ gai hai bên, dùng dao inox rạch trên lá nhiều hình vuông bằng con cờ nhỏ rồi cắt rời ra, thêm 50 g đường cát, 2 muỗng canh mật ong, nước đá đập nhỏ... để ăn.

Hoặc dùng 500 ml nước cốt nha đam, 200 ml mật ong trộn đều, để vào tủ lạnh dùng dần. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 muỗng canh trước bữa ăn.

Hoặc lấy nước vo gạo để lắng, bỏ nước trong bên trên (liều lượng tùy dùng trong ngày), dùng muỗng nạo lấy nhựa nhớt bên trong lá nha đam (bằng với lượng nước vo gạo). Trộn đều hai thứ. Buổi tối trước khi đi ngủ lau mặt cho sạch, rồi thoa dung dịch trên lên mặt, thoa cho đều, để vậy đến sáng, rửa lại bằng nước ấm.
(Theo Thanh Niên)

Giải độc, giải nhiệt bằng đậu xanh

Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ phiền nhiệt, bớt sưng phù, điều hòa ngũ tạng, trừ được các bệnh thuộc nhiệt. Vỏ đậu xanh có tác dụng giải nhiệt độc, dùng chữa mụn, ung nhọt... Dưới đây là những món ăn thường ngày chế biến từ đậu xanh có ích cho sức khỏe:

Nước nấu đậu xanh: Đậu xanh 60 g, thêm nước lượng vừa, lửa lớn nấu sôi một hơi, sau khi nguội lấy nước uống để ngừa say nắng, giải độc khi uống nhầm thuốc (thủy ngân, thạch tín...), giải độc do ngộ độc thức ăn, tiêu thủy thũng.

Dịch cốt đậu xanh: Đậu xanh 1 kg, thêm nước 5 lít, nấu cho đến khi đậu nhừ, lọc lấy dịch đặc, ăn một bát nhỏ trước các bữa cơm, phòng trị chứng khát trong bệnh tiểu đường, tiêu chảy...

Cháo đậu xanh: Đậu xanh, gạo tẻ lượng bằng nhau, nấu thành cháo loãng, dùng nhiều lần, giúp trừ khử và ngừa say nắng, tạo nước giảm khát, phòng trị chứng cao mỡ máu.

Chè đậu xanh, đỏ: Đậu xanh, đậu đỏ lượng bằng nhau, thêm lượng nước gấp năm lần, nấu chín, thêm đường, mỗi lần dùng một chén, dùng liền vài ngày để phòng trị rối loạn tiêu hóa, tiểu tiện không thông, da nổi mẩn ngứa, ban sởi...

Chè đậu xanh - phổ tai (thường bán ở các chợ): Đậu xanh 50 g, phổ tai 30 g (cắt sợi), thêm đường thẻ lượng vừa để nấu. Chè có tác dụng giải độc thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, thích hợp dùng cho trẻ chán ăn do nắng nóng ảnh hưởng chức năng phế vị.

Chè đậu xanh - củ sen: Đậu xanh 50 g, củ sen 200 g, thêm nước nấu chín, thêm đường cát trắng lượng vừa, dùng liền 1-3 tuần, trị các chứng nôn ra máu, khạc ra máu, chảy máu cam, sốt hâm hấp mùa nắng, sốt hâm hấp do bị lao phổi...

Canh trứng đậu xanh: Bột đậu xanh 50 g, trộn vào 100 g lòng trắng trứng gà, nấu chín rồi một lần dùng sạch, dùng giải độc thủy ngân, thạch tín...

Nước nấu đậu xanh - cam thảo: Đậu xanh 120 g, cam thảo sống 60 g, sắc uống chia hai lần, dùng giải độc khi uống nhầm thuốc độc như phụ tử, ô đầu... quá liều, hay dùng giải độc do ngộ độc thức ăn.

Bánh đậu xanh: Đường cát trắng 5 kg, sau khi nấu chảy thêm vào 250 g hoa quế trộn đều, thêm 6 kg bột đậu xanh, trộn đều, thêm 0,5 lít nước, khuấy thành dạng hồ, đổ vào các khuôn, cho vào lò hấp nửa giờ, chế ra bánh đậu xanh, dùng ăn mọi lúc, giúp bổ khí tạo nước, làm món ăn ngừa say nắng và bồi bổ cơ thể sau các bệnh thuộc nhiệt.
(Theo vnexpress)

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

3 cách đơn giản chữa mụn đầu đen



Lấy một miếng vải cotton mềm nhúng vào lòng trắng trứng gà và đắp lên vùng da mũi bị mụn đầu đen. Khi miếng vải khô và cứng lại, lật nhẹ miếng vải, chúng sẽ lấy đi hết mụn đầu đen trên mũi bạn.

Mụn đầu đen thường bám dai dẳng ở hai bên cánh mũi, trên trán bạn, gây mất thẩm mỹ. Để loại bỏ chúng, bạn có thể áp dụng các biện pháp đơn giản mà hiệu quả sau:

- Dùng nước chanh bôi lên chỗ mụn trước khi đi ngủ. Sáng ngủ dậy, rửa sạch mặt với nước lạnh. Lặp lại việc này vào các tối tiếp theo cho tới khi mụn đầu đen thực sự hết hẳn.

- Lấy 170 g sữa chua, 2 giọt tinh dầu húng quế, 2 giọt tinh dầu bạc hà, nước cốt 1 quả chanh, nửa viên men, 2 muỗng súp bột khoai tây (ngâm khoai tây vào nước khoảng vài giờ; trộn với 2 muỗng súp sữa tươi).

Trộn đều các thành phần trên, đắp hỗn hợp lên mặt, chú ý đắp nhiều lên những vùng có nhiều mụn trứng cá và mụn đầu đen. Để khoảng 10 hoặc 20 phút, sau đó rửa sạch bằng nước.
Ngoài ra, nếu bị mụn cám, bạn có thể lấy bột ngô trộn lòng trắng trứng gà đắp lên vùng da bị mụn cám, dần dần chúng sẽ biến mất.
(Theo Đẹp)

Chữa mụn nhọt bằng mít



Lá mít, nhựa mít được dân gian dùng làm thuốc chữa mụn nhọt, lở loét. Ngoài ra, các bộ phận khác của cây này cũng được dùng làm thuốc an thần, chữa sỏi thận...

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian:

Vỏ thân mít 20 g, chẻ nhỏ, phơi khô, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống một lần trong ngày có tác dụng an thần, gây ngủ. Phụ nữ có thai không được dùng vì dễ bị sẩy thai.

Nhựa trích từ thân cây mít, dùng ngay trộn với ít giấm, bôi hằng ngày chữa mụn nhọt, sưng tấy.

Lá mít già 20-30 g (lá mít mật tốt hơn) thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống, chữa đái ra cặn trắng ở trẻ em.

Dùng ngoài, lá mít tươi giã đắp mụn nhọt, làm giảm sưng đau; hoặc lá phơi khô, nấu thành cao mềm bôi chữa lở loét.

Cụm hoa đực (dái mít) hoặc quả mít non 30-50 g sắc uống giúp làm tăng tiết sữa. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với chân giò lợn 1 cái hoặc móng chân lợn 3-5 cái; lá sung có tật 100 g, quả đu đủ non 50 g, lõi thông thảo 10 g, hạt mùi 5 g, để sống, gạo nếp 100 g. Tất cả thái nhỏ, nấu thật nhừ thành cháo ăn làm 1-2 lần trong ngày. Dùng 2-3 ngày.

Múi mít được coi như một loại thức ăn - vị thuốc có tính bồi dưỡng và long đờm. Có thể chế siro mít bằng cách nấu múi mít chín (mít mật càng tốt) với nước với tỷ lệ 1 mít và 1/2 nước, đánh thật nhuyễn, lọc để được dịch quả, rồi trộn với đường để nấu thành siro với tỷ lệ 1/2. Khi dùng, pha loãng siro mít với nước sôi để nguội sẽ được một thứ nước giải khát thơm ngon, chống khô cổ, háo khát.

Theo kinh nghiệm dân gian, hạt mít có tác dụng thông tiểu, gây trung tiện làm cho dễ tiêu.

Tầm gửi sống bám ở cây mít cũng được dùng với tác dụng lợi sữa dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với cỏ sữa lá nhỏ.

Gần đây, các nhà khoa học Pháp đã chiết được từ quả mít chất jacalin, bước đầu được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm thấy có khả năng bảo vệ các bạch huyết bào (tế bào của hệ thống miễn dịch) chống lại bệnh AIDS.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

6 giải pháp cho mụn



Mỗi ngày ăn một quả chuối, bạn sẽ ngăn được mụn mới phát sinh. Chất fructo Oligosaccharides trong chuối nuôi dưỡng vi khuẩn có lợi trong ruột để ngăn sự sinh sôi của vi khuẩn có hại - kẻ sinh ra các axit độc hại đào thải qua da, gây mụn.

Nhiều đốm mụn đáng ghét bỗng lù lù xuất hiện trên gương mặt thanh tú. Bạn phải làm gì để mụn không còn là mối đe dọa cho nhan sắc? Ngoài việc ăn chuối, các giải pháp dưới đây cũng có thể giúp bạn:

Không dùng nước hoa hồng chứa nhiều cồn

Có lẽ bạn cảm thấy thỏa mãn khi làm săn bề mặt da với nước hoa hồng có độ cồn mạnh. Tuy nhiên, bạn hãy cẩn thận vì đó chính là thói quen rất có hại cho da.

Dùng nước hoa hồng nhiều cồn để tẩy nhờn sẽ vô tình kích thích các tuyến bã sản xuất chất nhờn nhiều hơn.

Giảm mụn với thuốc bôi da có chứa lưu huỳnh

Đây là phương pháp cổ điển và tiết kiệm để trị mụn. Lưu huỳnh có tác dụng làm giảm tiết chất nhờn và sát trùng.

Tuy nhiên, lưu huỳnh lại có mùi khó chịu, gây khô và kích ứng da. Chính vì thế mà cách này ít được dùng phổ biến.

Giữ ẩm cho da nhờn

Da nhờn dễ bị mụn. Thế nhưng, khi bạn dùng sản phẩm trị mụn lại khiến da trở nên khô sần. Vì thế, làn da rất cần được nuôi dưỡng.

Để giữ độ ẩm cho da và ngăn chặn tuyến bã sản xuất chất nhờn, bạn nên chọn sản phẩm giữ ẩm không làm bít lỗ chân lông và có chứa thành phần chống nắng.

Nếu bạn có mụn, việc sử dụng sản phẩm làm nâu da có thể để lại sẹo hoặc đốm thâm trên da trong nhiều năm. Nguyên nhân là sản phẩm này có tác dụng hút tia cực tím (UVA), nhằm kéo dài thời gian giữ màu sậm cho da. Trong khi đó, vùng da bị mụn lại rất nhạy cảm với tia UVA và dễ bị sậm màu, nhưng lại khó phai.

Cho da chút nắng

Nếu bạn không thích dùng các dược phẩm trị mụn, thử "tắm" trong ánh nắng ấm áp vào buổi sáng xem sao.

Chỉ nên phơi nắng khoảng từ 15 đến 30 phút để tránh làm tổn hại da. Ánh nắng dịu sẽ có tác dụng diệt khuẩn và làm khô các tuyến tiết bã nhờn.

Thận trọng khi nặn mụn

Nhiều người thường hay dùng tay nặn mụn vì cho rằng làm như thế tình trạng mụn sẽ bớt nghiêm trọng hơn.

Thói quen xấu này khiến nhân mụn bị chai, gây nhiễm khuẩn cho da và để lại sẹo. Do đó, bạn đừng bao giờ "táy máy" chạm tay vào các nốt mụn nhé.
(Theo Tiếp Thị & Gia Đình)

Thoái hóa hoàng điểm ở mắt người cao tuổi


I. Hoàng điểm là gì?

Mắt gồm có : các phần phụ và nhãn cầu:

a. Các phần phụ:

- Mi mắt, lông mi để bảo vệ mắt

- Các cơ vận nhãn: để đưa mắt nhìn sang trái, phải, lên trên, xuống dưới

b. Nhãn cầu: hình cầu, 2/3 sau gồm có 2 lớp:

- Lớp củng mạc: ở ngoài, để bảo vệ nhãn cầu

- Lớp mạch máu: ở giữa, để nuôi dưỡng nhãn cầu

- Lớp thần kinh: ở trong cùng, còn gọi là lớp võng mạch, tức là phần mặt sau bên trong của mắt, dùng để nhìn thấy mọi vật xung quanh.

Hoàng điểm là phần trung tâm của võng mạch, dùng để nhìn chi tiết các vật. Phần võng mạch còn lại dùng để nhận thức tổng quát các vật xung quanh.

Mắt của chúng ta hoạt động như một máy chụp hình, võng mạc ví như phim máy chụp hình, nhưng khác ở chỗ đối với phim tất cả các điểm trên phim có độ phân giải như nhau nên hình thấy rõ ở mọi điểm, trong khi đó ở võng mạc, hoàng điểm là vùng có độ phân giải cao hơn, nên nhìn thấy rõ nét từng chi tiết, phần võng mạc còn lại có độ phân giải thấp hơn nên cho sự nhìn bao quát, giúp nhận thức được các vật xung quanh một cách tổng quát.

Hoàng điểm cho sự nhìn rõ nét từng chi tiết. Trong điều kiện bình thường, máu cung cấp các chất dinh dưỡng và hấp thụ lại các chất cặn bã do hoàng điểm thải ra. Khi có hiện tượng lão hóa, các chất dinh dưỡng đến ít hơn và chất cặn bả tích lũy lại nhiều hơn do lưu lượng máu đến hoàng điểm kém hơn, làm cho hoàng điểm không được nuôi dưỡng đầy đủ, dẫn đến mắt bị mờ và có thể không nhìn thấy ở vùng trung tâm, người ta gọi là thoái hóa hoàng điểm ở người cao tuổi.

II. Thoái hóa hoàng điểm ở mắt người cao tuổi là gì?

Là một tình trạng bệnh lý vùng hoàng điểm không được nuôi dưỡng đầy đủ, dẫn đến rối loạn chức năng của các tế bào cảm thụ ánh sáng gây ra mờ mắt. Đây là quá trình lão hóa ở người lớn tuổi.

III. Có bao nhiêu người mắc bệnh?

Người ta ước tính là có 12% dân số tuổi từ 65 – 75 bị bệnh này và số này tăng lên mỗi ngày. Bệnh này là nguyên nhân gây mù hàng đầu ở Mỹ & Châu Âu.

IV. Biểu hiện của bệnh ra sao?

Bệnh biểu hiện bằng ba triệu chứng:

- Mắt mờ, bệnh nhân nghĩ rằng kính đeo không còn phù hợp nữa

- Có một vùng mờ ở trung tâm, hoặc nhìn không thấy hết các chữ của một từ.

- Hình ảnh bị biến dạng

V. Bệnh diễn tiến như thế nào?

Bệnh diễn biến theo hai dạng:

a. Dạng “khô”: bệnh nhân thấy có vùng mờ ở trung tâm, nhưng bệnh nhân vẫn còn khả năng di chuyển đi lại một mình được.

b. Dạng “ướt” : chiếm 15% - 20%, gây mù đến mù đến 90% các trường hợp. Dạng này có chỉ định điều trị bằng laser.

VI. Bệnh có khả năng điều trị được không?

Điều trị : điều trị nhằm làm chậm sự tiến triển của bệnh.

a. Điều trị bằng laser: dạng ướt có chỉ định điều trị bằng laser, điều trị này cũng chỉ làm chậm sự tiến triển của bệnh chứ không làm mắt sáng ra thêm.

b. Điều trị bằng thuốc: nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, việc dùng liều chính xác vitamin C, E, và bêta-carotene liều cao kết hợp với oxít kẽm và đồng có thể chống lại sự lão hóa của võng mạc và đặc biệt là chống lại sự xuất hiện và tiến triển nặng hơn của thoái hóa hoàng điểm ở người cao tuổi.

- Ở người bình thường được dùng thuốc, giảm sự xuất hiện bệnh 28% so với người không được dùng thuốc.

- Ở người bị bệnh được dùng thuốc, giảm tiến triển nặng hơn của bệnh 20%, so với người không được dùng thuốc

VII. Làm thế nào để phát hiện sớm bệnh?

Muốn phát hiện sớm bệnh thoái hóa hoàng điểm ở mắt người cao tuổi, có thể dùng bảng lưới Amsler, để kiểm tra thị lực mắt tại nhà

Cách thực hiện như sau:

- Dán bảnh lưới Amsler lên tường ngang tầm mắt hoặc cầm trên tay.

- Đeo mắt kính vào(nếu đang dùng mắt kính)

- Để mắt cách bảng lưới Amsler 30,5 cm.

- Che mắt trái, (nếu kiểm tra mắt phải).

- Mắt phải, nhìn vào điểm trung tâm của hình vẽ.

- Ghi lại những nhận xét về những ô vuông và những đường kẻ trên bảng lưới Amsler.

- Lập lại như trên cho mắt còn lại.

Kết quả:

- Nếu nhìn thấy tất cả những đường kẻ là đường thẳng và những hình vuông có cùng 1 kính thước thì mắt bình thường.

- Nếu thấy có sự thay đổi hình dạng của đường kẻ, ví dụ như biến dạng, mờ, mất màu, có những vùng tối, hoặc thấy có những vùng bị biến mất, thì có thể là thoái hóa hoàng điểm nên đến bác sĩ chuyên khoa mắt để khám.

VIII. Làm gì để làm chậm tiến triển của bệnh?

- Bảo vệ mắt tránh ánh sáng mặt trời bằng cách đeo kính râm chống tia cực tím.

- Ngưng hút thuốc lá: hút thuốc lá làm suy yếu tuần hoàn của cơ thể, làm giảm chức năng của những mạch máu võng mạc.

- Chế độ ăn uống nhiều rau xanh, trái cây và cá.

- Dùng thuốc có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoàng điểm, võng mạc như thuốc có chứa vitamin C, E, bêta-carotene, oxit kẽm, oxit đồng.

- Tập thể dục điều đặn: tập thể dục sẽ giúp cải thiện toàn bộ sức khỏe của cơ thể trong đó có hệ thống tuần hoàn.

- Thông tin cho mọi người, đặc biệt là người thân những nguy cơ cách phát hiện sớm, cách phòng ngừa bệnh.

Tóm lại:  bệnh thoái hóa hoàng điểm là nguyên nhân gây mù hàng đầu ở người lớn tuổi ở các nước trên thế giới. Bệnh này gây ra do sự lão hóa của võng mạc, hoàng điểm. Việc điều trị sẽ làm chậm sự tiến triển nặng của bệnh. Do đó, việc khám phát hiện sớm để điều trị kịp thời và thực hiện các biện pháp phòng bệnh là rất cần thiết nhằm ngăn chặn sự xuất hiện và tiến triển của bệnh, giúp làm tăng chất lượng sống cho người cao tuổi.BV. Mắt TP. HCM

Bệnh ung thư vòm họng



Bệnh nhân có một tổ chức loét, sùi ác tính ở bất cứ vị trí nào trong vòm họng. Nguyên nhân chính gây ung thư vòm họng chưa được xác định, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh có liên quan tới virus EBV.

Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh là viêm họng mạn tính kéo dài, nghiện thuốc lá, uống rượu nhiều.

Ở giai đoạn sớm có tới 80% bệnh nhân ung thư vòm họng bị nhức đầu lan tỏa, âm ỉ và thường ở một bên đầu. Ù tai chiếm 70% ca bệnh, đa số ù một bên tai, lúc nào cũng như có tiếng ve kêu, ngạt một bên mũi lúc nặng, lúc nhẹ, có khi chảy máu mũi. Ở giai đoạn muộn, người bệnh nhức đầu liên tục, có lúc đau dữ dội. Ù tai tăng dần dẫn tới nghe kém hoặc điếc. Mũi ngạt nặng liên tục và thường có chảy máu mũi.

Tổ chức ung thư vòm họng khi xâm lấn tới nền sọ (giai đoạn muộn) có thể gây tổn thương các dây thần kinh sọ não. Thường 80% số bệnh nhân khi được chẩn đoán ung thư vòm họng đã có hạch cổ. Hạch thường nằm ở cùng bên với khối u. Trong số đó có trên 60% bệnh nhân nổi hạch cổ ngay từ đầu và chính vì sự nổi hạch bất thường này mà người bệnh đi khám.

Khi bị ung thư vòm họng, các xét nghiệm cần làm là chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học. Chẩn đoán tế bào học là lấy tế bào bong ở khối u bằng tăm bông, hoặc chọc kim nhỏ vào hạch lấy ít tế bào, cố định trên lam kính, nhuộm rồi soi trên kính hiển vi quang học có độ phóng đại 100 đến 1.000 lần. Chẩn đoán mô bệnh học là lấy một mảnh nhỏ ở tổ chức u hoặc nghi ngờ khối u, hoặc lấy ở hạch cổ bằng kim bấm chuyên dụng. Mảng sinh thiết được cố định bằng dung dịch chuyên dụng, sau đó vùi trong paraphin rồi cắt mỏng 3-4 phần nghìn milimét, nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

Ngoài ra, có thể làm các xét nghiệm khác như: chụp X-quang hộp sọ, chụp cắt lớp vi tính, chụp X-quang phổi, siêu âm gan, xét nghiệm miễn dịch về virus EBV.

Ung thư vòm họng được điều trị chủ yếu bằng tia xạ. Các trường hợp muộn có kết hợp hóa trị. Để điều trị di căn tới hạch, xương, phổi, gan..., tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp cắt bỏ kết hợp với tia xạ hoặc hóa chất.

Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Suyễn (Phần cuối)



Các triệu chứng điển hình của suyễn

Các triệu chứng của suyễn khác nhau tuỳ người và tuỳ từng thời điểm. Điều quan trọng là phải nhớ rằng, những triệu chứng này có thể khó thấy và có thể tương tự với các triệu chứng được thấy ở các bệnh khác.

Tất cả các triệu chứng được đề cập sau đây cũng có thể hiện diện ở các bệnh hô hấp khác, và thỉnh thoảng cũng giống như ở các bệnh tim mạch. Sự lẫn lộn tiềm tàng này làm cho việc nhận biết các triệu chứng xuất hiện và xét nghiệm chẩn đoán trở thành rất quan trọng trong việc nhận ra rối loạn này.

4 triệu chứng chính để nhận dạng :

Khó thở - đặc biệt khi gắng sức hoặc ban đêm.

Khò khè - tiếng thở huýt sáo, thở rít khi thở ra.

Ho - có thể mãn tính; thường nặng hơn vào ban đêm và sáng sớm. Nhiều người suyễn xuất hiện sau khi gắng sức hoặc khi tiếp xúc không khí lạnh, khô.

Nặng ngực - có thể xuất hiện với có hay không có các triệu chứng trên.

Thực tế suyễn

Suyễn được phân loại theo tần số và độ nặng của triệu chứng, hoặc "cơn", các kết quả của xét nghiệm chức năng phổi.

30% người bị suyễn có các triệu chứng suyễn nhẹ, gián đoạn (ít hơn 2 cơn 1 tuần) với các xét nghiệm hô hấp bình thường.

30% có các triệu chứng suyễn nhẹ, dai dẳng (>= 2 cơn 1 tuần) với các xét nghiệm hô hấp bình thường.

40% có các triệu chứng suyễn vừa hoặc nặng, dai dẳng (mỗi ngày hoặc liên tục) với các xét nghiệm hô hấp bất thường.

Cơn suyễn cấp tính

Một cơn suyễn cấp tính, hoặc đột ngột, thường do tiếp xúc với các dị nguyên hoặc một nhiễm trùng đường hô hấp trên. Ðộ nặng của cơn phụ thuộc vào bệnh suyễn cơ bản của bạn đang được kiểm soát tốt như thế nào (phản ánh sự viêm đường hô hấp được kiểm soát tốt như thế nào). Một cơn cấp có thể đe dọa tính mạng bởi vì nó có thể vẫn tiếp diễn dù bạn có dùng thuốc cắt cơn thông thường (dãn phế quản hít) đi chăng nữa.

Cơn suyễn mà không đáp ứng với điều trị bằng 1 thuốc dạng hít thì bạn nên tìm đến chăm sóc y tế ngay tại các phòng cấp cứu bệnh viện gần nhất hoặc một phòng khám chuyên khoa suyễn, tùy thuộc vào hoàn cảnh và thời điểm trong ngày. Các cơn suyễn không tự dừng khi không có điều trị. Nếu bạn bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo sớm, bạn tự đặt mình vào nguy cơ xuất hiện "suyễn ác tính" (trạnh thái suyễn).

Sự thật dị ứng.

Các cơn suyễn kéo dài mà không đáp ứng với điều trị bằng thuốc dãn phế quản là một cấp cứu nội khoa. Thầy thuốc gọi các cơn suyễn nặng này là "suyễn ác tính" và chúng cần điều trị cấp cứu ngay.

Các triệu chứng của suyễn nặng là ho dai dẳng và không thể nói thành câu hoàn chỉnh hoặc không thể đi mà không khó thở. Ngực bạn có thể cảm thấy bị thắt chặt và môi bạn có thể có màu xanh tím. Ngoài ra, bạn có thể cảm thấy bị kích động, lẫn lộn, hoặc mất khả năng tập trung. Bạn có thể cúi khom người ra trước, ngồi hoặc đứng để thở dễ dàng hơn, và làm căng cơ bụng và cổ của bạn. Ðây là các dấu hiệu của sự suy hô hấp sắp xảy ra. Lúc này, các thuốc qua đường hít sẽ không thể đảo ngược tiến trình này.

Thông khí cơ học có thể cần thiết để hỗ trợ phổi và các cơ hô hấp. Một cái mặt nạ hoặc một ống thở được gắn vào mũi hoặc miệng cho điều trị này. Các hỗ trợ hô hấp này là tạm thời và được lấy bỏ một khi cơn suyễn đã giảm đi và phổi đã hồi phục đầy đủ để bắt đầu lại công việc hô hấp của chính nó. Nằm viện một thời gian ngắn trong một đơn vị chăm sóc tích cực có thể là do một cơn suyễn nặng mà không được điều trị ngay tức khắc. Ðể tránh việc nằm viện như thế, tốt nhất, lúc khởi đầu của triệu chứng, là bắt đầu điều trị sớm ngay tại nhà hoặc ở phòng khám của bác sĩ.

Sự hiện diện của khò khè hoặc ho tự nó không phải là tiêu chuẩn đáng tin cậy cho việc phán đoán độ nặng của cơn suyễn. Trong các cơn suyễn rất nặng thì các phế quản có thể bị bít tắc đến mức mà sự thiếu khí vào và ra khỏi phổi của bạn thậm chí không tạo ra được tiếng khò khè hoặc ho.

Suyễn được điều trị như thế nào?

Hầu hết các thuốc trị suyễn tác dụng bởi việc làm dãn co thắt phế quản (các thuốc dãn phế quản) hoặc giảm viêm (corticosteroids). Trong điều trị suyễn, các thuốc dạng hít thường được ưa chuộng hơn các thuốc dạng viên hoặc dịch để uống (các thuốc qua đường uống). Các thuốc dạng hít tác dụng trực tiếp trên bề mặt đường dẫn khí và các cơ đường dẫn khí nơi mà các rối loạn của suyễn bắt đầu.

Sự hấp thu các thuốc dạng hít vào phần còn lại của cơ thể thì rất nhỏ. Do đó, các tác dụng phụ thì ít hơn so với các thuốc dạng uống. Các thuốc dạng hít bao gồm các thuốc kích thích beta-2, các thuốc kháng cholinergics, các corticosteroids, và cromolyn sodium. Các thuốc dạng uống bao gồm aminophyllin, và các viên corticosteroids.

Theo cổ điển, một trong những thuốc đầu tiên được dùng cho suyễn là adrenaline (epinephrine). Adrenaline có khởi đầu tác dụng nhanh trong việc mở rộng đường dẫn khí (dãn phế quản). Nó thường được sử dụng trong các tình huống cấp cứu suyễn. Tuy nhiên, adrenaline có nhiều tác dụng phụ bao gồm nhịp tim nhanh, đau đầu, buồn nôn, nôn, không yên, và cảm giác hoảng sợ.

Các thuốc có công thức hoá học tương tự adrenaline đã được phát triển. Những thuốc này, được gọi là kích thích beta-2, có lợi ích dãn phế quản của adrenaline mà không có nhiều tác dụng phụ không mong muốn của nó.

Các thuốc kích thích beta-2 là các thuốc dãn phế quản dạng hít, chúng được gọi là "kích thích" vì chúng thúc đẩy hoạt động của các thụ thể beta-2 ở cơ trơn phế quản. Thụ thể này hoạt động để làm dãn thành cơ trơn của phế quản, gây dãn phế quản. Hoạt động dãn phế quản của các thuốc kích thích beta-2 bắt đầu trong vòng vài phút sau khi hít thuốc và kéo dài khoảng 4 giờ. Các ví dụ của những thuốc này bao gồm albuterol (Ventolin, Proventil), metaproterenol (Alupent), pirbuterol acetate (Maxair), và terbutaline sulfate (Brethaire).

Một nhóm thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài đã được phát triển, thời gian hiệu quả được duy trì 12 giờ. Những thuốc dạng hít này có thể dùng 2 lần một ngày. Salmeterol xinafoate (Serevent) là một ví dụ của nhóm thuốc này. Các thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài thường không được dùng cho các cơn cấp. Các thuốc kích thích beta-2 có thể có các tác dụng phụ, như lo lắng, run, đánh trống ngực hoặc nhịp tim nhanh và làm hạ kali máu.

Cũng như các thuốc kích thích beta-2 có thể làm dãn đường dẫn khí, các thuốc ức chế beta làm suy yếu sự dãn cơ trơn phế quản bởi các thụ thể beta-2 và có thể gây ra co thắt đường dẫn khí, làm suyễn nặng lên. Do đó, các thuốc ức chế beta, như các thuốc điều trị tăng huyết áp propanolol (Inderal), và atenolol (Tenormin) nên được tránh ở các bệnh nhân suyễn.

Các thuốc kháng cholinergic tác dụng trên một kiểu thần kinh khác với các thuốc kích thích beta để đạt được sự

dãn và mở đường dẫn khí tương tự. Hai nhóm thuốc dãn phế quản dạng hít này khi được dùng chung với nhau có thể tạo ra hiệu quả dãn phế quản tăng cường.

Một ví dụ của thuốc kháng cholinergic được dùng thường gặp nhất là ipratropium bromide (Atrovent). Ipratropium tác dụng chậm hơn so với các thuốc kích thích beta-2, với tác dụng đỉnh xuất hiện 2 giờ sau uống và kéo dài 6 giờ. Các thuốc kháng cholinergic có thể là những thuốc rất hữu ích cho bệnh nhân có khí phế thủng.

Khi các triệu chứng của suyễn khó kiểm soát bởi các thuốc kích thích beta-2, thì các corticosteroid (cortisone) hít thường được thêm vào. Các corticosteroids có thể cải thiện chức năng phổi và giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí theo thời gian. Các thí dụ của các thuốc corticosteroid hít bao gồm beclomethasone dipropionate (Beclovent,

Beconase, Vancenase, và Vanceni), triamcinolone acetonide (Azmacort), và flunisolide (Aerobid). Liều lý tưởng của corticosteroid vẫn chưa được biết rõ. Tác dụng phụ của các thuốc corticosteroid bao gồm khàn tiếng, mất giọng, và nhiễm nấm ở miệng. Sử dụng corticosteroids hít sớm có thể ngăn chặn tổn thương không hồi phục cho đường dẫn khí.

Cromolyn sodium (Intal) ngăn chặn sự giải phóng các hoá chất trung gian trong phổi, như là histamine, chất có thể gây ra suyễn. Cromolyn hoạt động ngăn chặn suyễn một cách chính xác như thế nào cần được nghiên cứu thêm.

Cromolyn không phải là một corticosteroid và thường không phối hợp với các tác dụng phụ quan trọng. Cromolyn hữu ích trong việc ngăn chặn suyễn nhưng có hiệu quả hạn chế một khi suyễn cấp đã bắt đầu. Cromolyn có thể giúp ngừa cơn suyễn được khởi phát bởi gắng sức, khí lạnh, và các chất dị nguyên, như là lông mèo. Cromolyn có thể dùng ở trẻ em cũng như ở người lớn.

Theophylline (Theodur, Theostat, Theoair, Slo-bid, Uniphyll, Theo-24) và aminophylline là các ví dụ của methylxanthine. Các methylxanthine được dùng bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Trước khi các thuốc dạng hít trở nên phổ biến, methylxanthine là thuốc rường cột trong điều trị suyễn. Chất caffeine mà ở trong cà phê thông thường và các nước uống giải khát cũng là một thuốc methylxanthine! Theophylline làm thư dãn các cơ bao quanh đường dẫn khí, và ngăn chặn các tế bào lót phế quản (tế bào mast) khỏi việc giải phóng hoá chất, như histamine, chất có thể gây ra cơn suyễn.

Theophylline cũng có thể tác dụng như một thuốc lợi tiểu nhẹ, gây tăng lượng nước tiểu. Ðối với suyễn khó kiểm soát, methylxanthine cũng có thể còn đóng một vai trò quan trọng. Các mức liều lượng của theophylline hoặc methylxanthine được theo dõi sát. Các mức quá cao có thể gây buồn nôn, nôn, các rối loạn nhịp tim, và thậm chí co giật. T

rong vài bệnh cảnh nhất định, như suy tim hoặc xơ gan, liều methylxanthine được giảm thấp để tránh nồng độ trong máu quá cao. Sự tương tác với các thuốc khác, như cimetidine (Tagament), các thuốc ức chế kênh canxi (Procardia), quinolones(Cipro), và allopurinol (Xyloprim) có thể ảnh hưởng thêm nồng độ thuốc trong máu.

Các thuốc corticosteroids được dùng bằng đường uống cho suyễn nặng không đáp ứng với các thuốc khác. Tuy nhiên, liều cao của corticosteroids qua một thời gian dài có thể có các tác dụng phụ trầm trọng, bao gồm loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp, mỏng da và dễ bầm máu, mất ngủ, thay đổi tính tình, và tăng cân.

Các thuốc long đàm giúp làm loãng đàm, làm cho đàm dễ khạc ra hơn. Kali iod thường được dùng nhưng có khả năng gây ra tác dụng phụ là mụn trứng cá, tăng nước bọt, phát ban, và rối loạn tuyến giáp. Guaifenesin (Entex, Humibid) có thể gây tăng tiết dịch trong phổi và giúp làm loãng chất nhầy, nhưng cũng có thể là chất kích thích đường dẫn khí đối với vài bệnh nhân.

Cùng với các thuốc dãn phế quản cho các bệnh nhân bị suyễn có cơ địa dị ứng, việc tránh các dị nguyên hoặc các chất kích thích có thể rất quan trong. Ở những bệnh nhân không thể tránh dị nguyên, hoặc ở những người mà triệu chứng không thể được kiểm soát bởi thuốc, sự thử dị nguyên có thể được xem xét.

Lợi ích của thử dị nguyên (giải mẫn cảm) trong việc ngừa suyễn vẫn chưa được thiết lập chắc chắn. Vài bác sĩ vẫn còn lo ngại về nguy cơ sốc phản vệ, cái mà xuất hiện ở 1 / 2 triệu liều được cho. Thử dị nguyên thường có lợi nhất ở trẻ em bị dị ứng với mạt nhà. Các lợi ích khác có thể được thấy với phấn cỏ, cỏ lưỡi chó, và lông thú.

Ở vài bệnh nhân bị suyễn, tránh dùng aspirin, hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác (thường dùng trong điều trị viêm khớp) là quan trọng. Ở những bệnh nhân khác, việc điều trị đầy đủ trào ngược acid dạ dày (trào ngược thực quản) ngừa sự kích thích đường dẫn khí. Các biện pháp để ngăn chặn trào ngược thực quản bao gồm thuốc, giảm cân, thay đổi chế độ ăn, và ngưng hút thuốc lá, ngưng uống cà phê và rượu.

Các thí dụ cho các thuốc dùng để giảm trào ngược bao gồm omeprazole (Prilosec, Losec), và ranitidine (Zantac). Những bệnh nhân có những rối loạn trào ngược nặng gây ra những rối loạn tại phổi có thể cần phẫu thuật để làm tăng sức mạnh cơ thắt thực quản để ngăn trào ngược acid. Ðể biết thêm thông tin, hãy đọc bài bệnh Trào ngược Dạ dày-thực quản.

Sơ lược về suyễn

Suyễn là sự viêm mãn tính các ống phế quản (đường dẫn khí) gây ra sưng phồng và hẹp (co thắt) đường dẫn khí. Sự hẹp phế quản thường là hồi phục hoặc toàn bộ hoặc ít nhất một phần với điều trị.

Hiện nay suyễn là bệnh viêm mãn tính thường gặp nhất ở trẻ em, ảnh hưởng 1 trong mỗi 15 em.

Suyễn chỉ liên quan đến các ống phế quản và không ảnh hưởng lên các túi phế nang hoặc nhu mô phổi. Sự hẹp xảy ra ở suyễn là do 3 yếu tố chính : viêm, co thắt phế quản, và tăng đáp ứng.

Dị ứng có thể đóng một vai trò trong một số trường hợp, nhưng không phải tất cả bệnh nhân bị suyễn.

Nhiều yếu tố có thể thúc đẩy cơn suyễn và chúng được phân loại hoặc là dị nguyên hoặc là chất kích ứng.

Các triệu chứng của suyễn bao gồm khó thở, khò khè, ho, và nặng ngực.

Suyễn được chẩn đoán dựa trên sự hiện diện của khò khè và được khẳng định bởi các xét nghiệm hô hấp.

X quang ngực thường bình thường ở các bệnh nhân bị suyễn.

Việc tránh các yếu tố thúc đẩy là quan trọng trong việc điều trị suyễn.

Các thuốc có thể được dùng để đảo ngược hoặc ngăn chặn co thắt phế quản ở bệnh nhân bị suyễn.
(Theo BSGĐ)

Viêm phế quản mạn tính bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) (Phần cuối)


Điều trị COPD ra sao?

Mục tiêu điều trị COPD là 1) ngăn chặn chức năng phổi tiến triển xấu hơn, 2) làm giảm triệu chứng, 3) cải thiện hoạt động hàng ngày và chất lượng đời sống. Chiến lược điều trị gồm 1) bỏ hút thuốc, 2) uống thuốc làm giãn đường thở (thuốc giãn phế quản) và giảm viêm đường dẫn khí, 3) tiêm vaccine ngừa cúm và viêm phổi, 4) bổ sung ôxy đều đặn và 5) phục hồi chức năng phổi.

Bỏ hút thuốc

Điều trị COPD quan trọng nhất là bỏ hút thuốc. Bệnh nhân tiếp tục hút thuốc sẽ bị suy giảm chức năng phổi nhanh hơn những người bỏ thuốc. Đáng tiếc là chỉ một phần ba bệnh nhân ngưng thuốc trong thời gian dài. Các nguyên nhân khó bỏ thuốc gồm có nghiện nicotine, stress tại công sở hay tại nhà, suy sụp, áp lực địa vị, và quảng cáo của các công ty thuốc lá.

Nicotine trong thuốc lá gây nghiện và do đó ngưng hút thuốc gây nên những triệu chứng cai nitcotine gồm lo lắng, bức rức, giận dữ, suy sụp, mệt, khó tập trung hoặc khó ngủ và thèm thuốc lá mãnh liệt. Những bệnh nhân sau đây sẽ có triệu chứng cai điển hình: hút thuốc trên 20 điếu một ngày, cần hút một điếu ngắn sau khi ngủ dậy vào buổi sáng, khó kiềm chế hút thuốc khi vào khu vực cấm hút thuốc.

Tuy nhiên, khoảng 25 % người hút thuốc có thể bỏ thuốc mà không có nhưng triệu chứng cai. Thậm chí những người có triệu chứng cai thì các triệu chứng này cũng giảm dần sau vài tuần ngưng thuốc.

Để giúp những bệnh nhân có các triệu chứng cai thuốc trong những tuần đầu ngưng thuốc bằng kẹo cao su nicotine (Kẹo Nicorrette), và miếng dán da nicotine (Transderm Nicotine) có tại Hoa Kỳ. Cả kẹo và miếng dán da mang đủ lượng nicotine vào máu để giảm bớt các triệu chứng cai nhưng không loại trừ hoàn toàn. Thay thế nicotine kết hợp với tăng cường giáo dục bệnh nhân và các chương trình thay đổi hành vi nhằm cải thiện tỉ lệ người bỏ thuốc lá.

Miếng dán da nicotine thì dễ sử dụng hơn. Chúng thường được sử dụng trong 4 đến 6 tuần, thỉnh thoảng có tăng thêm vài tuần nhưng giảm dần số lượng. Những miếng nicotine dán da thêm có nồng độ thấp.

Buproprion (Zyban, Wellbutrin) là thuốc chống trầm cảm dùng để giảm thèm thuốc lá. Thuốc này cho thấy là có lợi trên bệnh nhân muốn bỏ hút thuốc.

Ngoài các triệu chứng cai nicotine, bỏ thuốc lá cũng dẫn đến tăng cân trung bình khoảng 8-10 pound ( 4-5 kg) hoặc hơn ở vài bệnh nhân. Bỏ thuốc lá cũng dẫn đến chán nản và trầm cảm là triệu chứng của viêm loét đại tràng mạn tính. Do đó khi bỏ hút thuốc cần được bác sĩ giám sát. Trái lại, những lợi ích của bỏ thuốc (giảm tỉ lệ tổn thương phổi, tăng đột quỵ tim, ung thư phổi và các ung thư khác, giảm nguy cơ loét dạ dày...) lớn hơn nhiều so với các tác dụng tiêu cực tiềm ẩn.

Để biết thêm thông tin về bỏ hút thuốc lá, xin đọc bài viết Hút thuốc và bỏ thuốc.

Thuốc giãn phế quản

Điều trị các tắc nghẽn đường dẫn khí trong COPD bằng thuốc giãn phế quản tương tự như điều trị co thắt phế quản trong hen phế quản nhưng không giống hoàn toàn. Các thuốc giãn phế quản là các thuốc làm giãn cơ quanh đường dẫn khí nhỏ bằng cách mở đường dẫn khí.

Các thuốc này có thể hít, uống hay tiêm tĩnh mạch. Thuốc giãn phế quản dạng hít thông dụng hơn do chúng trực tiếp vào nơi cần có tác dụng là đường thở. So với thuốc giãn phế quản dạng uống, thuốc giãn phế quản dạng hít ít đến các phần khác của cơ thể hơn do đó có ít tác dụng phụ hơn.

Bình xịt định liều (MDI) được sử dụng để đưa thuốc giãn phế quản hít vào phế quản. Bình xịt định liều là một hộp được gây áp lực có chứa thuốc, khi đè tạo áp lực sẽ phóng thích thuốc. Mỗi lần đè, bình xịt định liều sẽ phóng thích một lượng thuốc chuẩn. Để đưa lượng thuốc tối đa vào trong đường dẫn khí, bệnh nhân cần phải học cách hít hợp tác trong mỗi lần xịt. Sử dụng bình xịt định liều không đúng có thể dẫn đến lắng đọng nhiều thuốc ở lưỡi và sau họng thay vì vào đường thở.

Buồng đệm giúp giảm lắng đọng thuốc ở họng và tăng lượng thuốc vào trong đường thở. Buồng đệm là một ống giống như một hộp gắn vào ngõ ra của bình xịt định chuẩn. Thiết bị buồng đệm có thể giữ thuốc được phóng thích thời gian lâu đủ để bệnh nhân có thể hít thuốc chậm và sâu vào phổi. Sừ dụng buồng đệm hợp lý làm tăng đáng kể

lượng thuốc vào trong đường thở.

Thuốc chủ vận beta

Một trong những thuốc đầu tiên có được sử dụng trong hen phế quản, mang tính lịch sử là adrenaline (epinephrine). Adrenaline làm thông thoáng đường thở có khởi phát nhanh, cũng được sử dụng trong vài trường hợp cấp cứu cơn hen phế quản. Đáng tiếc là adrenaline có nhiều tác dụng phụ gồm nhịp tim nhanh, nhức đầu, nôn, buồn nôn, không yên, và cảm giác hoảng sợ. Do đó, adrenaline không được sử dụng điều trị COPD.

Thuốc chủ vận beta-2 có các tác dụng giãn phế quản của adrenaline mà không có các tác dụng phụ không mong muốn. Thuốc chủ vận beta-2 có thể cho qua đường khí dung xịt định liều hoặc đường uống. Chúng được gọi là ‘thuốc chủ vận’ do kích thích thụ thể beta-2 trên cơ bao quanh đường thở.

Kích hoạt thụ thể beta-2 làm giãn cơ quanh đường thở và mở khí đạo. Dãn đường thở giúp giảm các triệu chứng khó thở (thở nhanh). Thuốc chủ vận beta-2 được chứng minh là làm giảm khó thở ở nhiều bệnh nhân COPD, ngay cả ở những người tắc nghẽn đường thở hồi phục mà không giải thích được. Tác dụng của thuốc chủ vận beta-2 bắt đầu vài phút sau khi hít và kết thúc sau 4 giờ.

Do tác dụng khởi phát sớm, thuốc chủ vận beta-2 đặc biệt hữu ích cho những bệnh nhân khó thở cấp. Vì thời gian tác dụng ngắn nên một ngày cần dùng vài liều.

Vài loại thuốc chủ vận beta-2 như albuterol (Ventolin, Proventil), metaproterenol (Alupent), pirbuterol (Maxair), terbutaline (Brethaire), và soetharine (Bronkosol). Levalbuterol (Xopenex) gần đây được chứng minh là thuốc chủ vận beta-2.

Thuốc chủ vận beta-2 tác dụng khởi phát chậm hơn nhưng kéo dài hơn như salmeterol xinafoate (Serevent) hiện tại đang được sử dụng. Salmeterol có thời gian tác dụng 12 giờ nên chỉ cần dùng 2 lần một ngày.

Tác dụng phụ của thuốc chủ vận beta-2 gồm lo lắng, run rẩy, đánh trống ngực hay tăng nhịp tim, và hạ kali máu.

Các thuốc kháng cholinergic

Acetylcholine là hóa chất được dây thần kinh phóng thích, chúng gắn với các thụ thể trên cơ quanh đường thở gây nên co cơ và chít hẹp đường dẫn khí. Các thuốc kháng cholinergic như ipratropium bromide (Atrovent) làm dãn đường dẫn khí do chẹn thụ thể của acetylcholine trên cơ, đường dẫn khí và ngăn ngừa chít hẹp. Ipratropium bromide (Atrovent) thường được cho qua đuờng khí dung xịt định liều.

Trên bệnh nhân COPD, ipratropium được chứng minh là làm giảm khó thở, cải thiện dung nạp luyện tập và cải thiện FEV1. Ipratropium có tác dụng khởi phát chậm hơn nhưng kéo dài hơn các thuốc chủ vận beta-2 tác dụng ngắn. Ipratropium thường được dung nạp tốt, mà tác dụng phụ lại thấp nhất ngay cả khi sử dụng liều cao. Tiotropium có tác dụng kéo dài và là dạng Ipratropium tác động mạnh hơn, hiện sắp được đưa ra sử dụng.

So sánh Ipratropium với thuốc chủ vận beta-2 trên điều trị bệnh nhân COPD, các nghiên cứu cho rằng ipratropium có hiệu quả dãn đường dẫn khí và cải thiện triệu chứng nhiều hơn nhưng lại có ít tác dụng phụ hơn. Ipratropium đặc biệt thích hợp cho người già đáp ứng kém với điều trị với thuốc đối vận beta-2 hoặc ipratropium đơn thuần, kết hợp hai thuốc đôi khi cho kết quả đáp ứng tốt hơn khi sử dụng đơn độc mà không có thêm tác dụng phụ.

Methylxanthanines

Theophylline (Theodur, Theoair, Slo-Bid, Uniphyll, Theo-24) và aminophylline là thuốc nhóm methylxanthanines. Theophylline làm dãn cơ quanh đường dẫn khí giống như thuốc đối vận beta, nhưng chúng cũng ngăn các dưỡng bào quanh đường dẫn khí khỏi phóng thích các chất làm chít hẹp khí quản như histamine.

Theophylline cũng có thể tác động như là chất lợi tiểu nhẹ và làm tăng đi tiểu. Theophylline cũng có thể làm tăng lực co bóp tim và làm giảm áp lực động mạch phổi. Do đó, theophylline có thể giúp ích cho bệnh nhân COPD suy tim và tăng áp phổi.

Theophylline đặc biệt hữu ích trên những bệnh nhân khó sử dụng các thuốc giãn phế quản dạng hít nhưng có thể uống được.

Bất lợi của methylxanthinines là các tác dụng phụ của chúng. Phải được theo dõi sát liều và nồng độ theophylline hay aminophylline trong máu. Nồng độ cao, dư trong máu có thể dẫn đến nôn, buồn nôn, các vấn đề về nhịp tim, thậm chí động kinh.

Ở những bệnh nhân suy tim hay xơ gan, phải giảm liều methylxanthines để tránh nồng độ cao trong máu. Tương tác với các thuốc khác như cimetidine (Tagament), ức chế kênh calcium (Procardia), quinolones (Cipro), và allopurinol (Xyloprim) cũng có thể làm thay đổi nồng độ methylxanthines trong máu.

Corticosteroides

Khi viêm đường dẫn khí (gây phù) làm hẹp đường dẫn khí, các thuốc kháng viêm (đặc biệt hơn cả là corticosteroid) có thể có ích. Các thuốc corticosteroid như Prednisone và Prednisolone. 20-30% bệnh nhân COPD cho thấy cải thiện chức năng phổi khi uống corticosteroid. Đáng tiếc là sử dụng liều corticosteroid bằng đường uống cao trong thời gian dài gây nhiều phản ứng phụ nặng nề, gồm loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp, da mỏng và dễ bầm, mất ngủ, thay đổi cảm xúc, tăng cân. Do đó, nhiêu bác sĩ dùng corticosteroids đường uống là lựa chọn cuối cùng. Khi sử dụng corticosteroids, phải kê toa liều thấp nhất có thể trong thời gian ngắn nhất để tác dụng phụ ít nhất.

Corticosteroid cũng có thể dùng đường hít. Corticosteroid hít có ít tác dụng phụ hơn coticosteroid đường uống lâu dài. Các thuốc corticosteroid hít như beclomethasone dipropionate (Beclovent, Beconase, Vancenase, và Vanceril), triamcinolone acetonide (Azmacort), fluticasone (Flovent), budesonide (Pulmocort) và flunisolide (Aerobid).

Corticosteroid hít có ích điều trị bệnh nhân hen phế quản, nhưng ở bệnh nhân COPD tác dụng có lợi của corticosteroid hít không rõ ràng như corticosteroid uống. Trái lại, các bác sĩ ít quan tâm sử dụng corticosteroid hít vì độ an toàn của chúng. Các tác dụng phụ của corticosteroid gồm khàn giọng, mất giọng, nhiễm nấm miệng. Buồng đệm được đặt giữa miệng và bình hít định chuẩn có thể cải thiện việc đưa thuốc vào đường thở và làm giảm tác dụng phụ ở miệng và họng. Súc miệng sau khi sử dụng steroid hít cũng làm giảm tác dụng phụ.

Điều trị khiếm khuyết Alpha-1 antitrypsin

Khí phế thũng có thể hình thành ở người rất trẻ ở vài bệnh nhân khiếm khuyết Alpha-1 antitrypsin (AAT) nặng. Thay AAT thiếu hay bất hoạt bằng đường tiêm có thể giúp ngừa tiến triển kết hợp với khí phế thũng. Điều trị này không có lợi ở các dạng COPD khác.

Vai trò của ô-xy liệu pháp trong COPD?

Cung cấp đủ ô xy là rất cần thiết để các mô cơ thể hoạt đông chức năng chính xác. Ở người bình thường lẫn người bị COPD, cơ chế bảo vệ phổi gây co thắt mạch máu ở các vùng phổi có nồng độ ô xy thấp do thông khí kém. Co thắt mạch máu ở những vùng này làm ngăn máu đến những vùng phổi thông khí kém, nơi trao đổi ôxy (và carbon dioxide) ít .

Thay vì thế, máu đến những vùng phổi được thông khí tốt là vùng có thể diễn ra trao đổi khí. Đáng tiếc là dầu cơ chế này cải thiện hiệu quả trao đổi ô xy và carbon dioxide, co thắt mạch máu cũng làm tăng áp lực mạch máu ở phổi, được gọi là tình trạng tăng áp phổi. Áp lực này tăng cần tim hoạt động mạnh thêm để bơm máu vào phổi, và tim bên phải (nơi tim bơm máu lên phổi) có thể suy do làm việc quá tải.

Ô xy trong bình hay đồ tập trung ô xy (thiết bị tập trung ô xy trong không khí) được bệnh nhân COPD hít qua mặt nạ hay ống thông (canulla) có thể làm giãn mạch máu và giảm áp lực máu lên phổi, nhờ đó làm giảm hoạt động của tim bên phải và cải thiện tình trạng suy tim. Các kỹ thuật mới hơn cho phép bình có trọng lượng rất nhẹ cung cấp liệu pháp ô xy nhiều giờ liền. Những thiết bị này làm tăng tính lưu động và nhờ đó tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân COPD.

Nhu cầu ôxy khác nhau ở các bệnh nhân COPD. Vài người cần ôxy liên tục trong khi những người khác chỉ ôxy khi luyện tập hay khi ngủ. Những nhu cầu này được xác định nhờ đo nồng độ ôxy bằng khí máy động mạch hay bằng ôxy ký. Rất quan trọng để lưu ý rằng không phải tất cả bệnh nhân hiểu đúng về nhu cầu ô xy của mình. Do đó, vài bệnh nhân COPD bị giảm nồng độ ôxy nặng mà không hề biết. Những bệnh nhân này có thể từ chối sử dụng ôxy, tuy nhiên các nghiên cứu khoa học chứng minh rằng sử dụng ôxy thích hợp giúp kéo dài đời sống những người này.

Còn biện pháp nào điều trị COPD có hiệu quả?

Phục hồi phổi là nền tảng quản lý COPD từ nhẹ đến nặng. Phục hồi phổi là chương trình giáo dục đánh giá chức năng phổi và rối loạn chức năng, kỹ thuật thở hợp lý (thở cơ hoành, thở chúm môi), sử dụng thuốc và thiết bị thở thích hợp. Một phần thiết yếu trong chương trình là luyện tập tăng dần thể lực để khắc phục giảm thể tích vật lý, mà giảm thể tích vật lý lại thường tăng dần theo thời gian. Hơn nữa, liệu pháp vật lý và nghề nghiệp là thường được sử dụng để tập cho cơ thể đạt hiệu quả tối ưu.

Phẫu thuật giảm thể tích phổi nhận được nhiều ca tụng từ giới báo chí. Phẫu thuật giảm thể tích phổi là tiến trình phẫu thuật điều trị một số bệnh nhân COPD. Có thể tóm lược về phẫu thuật này là phần phổi bên trên kém chức năng và giãn rộng đè vào và làm suy yếu chức năng của các vùng phổi chức năng tốt.

Do đó, nếu phần phổi giãn to được phẫu thuật cắt đi thì phần phổi bị nén lại dãn ra và cải thiện chức năng tốt hơn. Hơn nữa, cơ hoành và khoang ngực đạt được vị trí tối ưu hơn nhờ phẫu thuật, và điều này làm cải thiện thêm việc thở.

Tiêu chuẩn tốt nhất để lựa chọn bệnh nhân phẫu thuật giảm thể tích phổi vẫn còn thay đổi. Một nghiên cứu đang tiến hành để xác định loại bệnh nhân nào nhận được lợi ích từ phẫu thuật này. Hiện tại, đang đánh giá bệnh nhân khí phế thũng vùng đỉnh phổi là chính. Các dữ kiện công bố gần đây khám phá rằng những bệnh nhân FEV1 nhỏ hơn 20% giá trị tiên đoán và bệnh lý khuyếch tán trên chụp CAT thấp hơn 20% thể tích khuyếch tán có số tử vong cao hơn so với những bệnh nhân kiểm soát.

Vai trò của phẫu thuật giảm thể tích phổi cho đến hiện tại vẫn không rõ ràng. Xác định cách chọn bệnh nhân nào có lợi và khoảng thời gian được cung cấp phẫu thuật là điều quan trọng.

Xu hướng COPD trong tương lai

Đối lập với hen phế quản đã được nghiên cứu nhiều từ 20 năm qua, COPD chưa được nghiên cứu đầy đủ. Có chứng cớ có giá trị cho rằng COPD là tiến trình viêm giống như hen phế quản, tuy nhiên dường như có những dạng viêm phổi khác biệt ở những bệnh nhân này. Cơ chế viêm cơ bản trong COPD và viêm trong khi bệnh tiến triển cần được nghiên cứu và hiểu biết rõ hơn.

Chưa có thông tin nào hay thông tin rất hiếm về cơ chế phân tử của viêm trên bệnh nhân COPD ổn định. Vấn đề sau trở nên đặc biệt quan trọng trong lãnh vực điều trị. Hiện nay, có lượng lớn thử nghiệm lâm sàng tìm những can thiệp vào các viêm đường thở khác nhau.

Một lãnh vực thú vị khác là cơ chế di truyền: chỉ một lượng nhỏ người hút thuốc bị khí phế thũng. Lãnh vực nghiên cứu thú vị thứ ba là vai trò của các thụ thể thần kinh tại phổi, hiện nay là tâm điểm của những thử nghiệm lâm sàng cuối cùng. Sau hết, cần cải tiến phương pháp phát hiện COPD sớm hơn.

Tóm lược về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đặc trưng bằng sự tắc nghẽn mạn tính dòng khí ra khỏi phổi.

COPD gồm có hai bệnh chính có liên quan - viêm phế quản mãn và khí phế thũng.

Viêm phế quản mạn tính có tình trạng viêm và phù đường dẫn khí làm hẹp và tắc nghẽn chúng.

Khí phế thũng có tình trạng giãn rộng phế nang từ từ do phá hủy thành giữa các phế nang.

COPD gây trao đổi khí ở phổi kém làm giảm nồng độ ôxy trong máu, tăng nồng độ carbon dioxide, và khó thở.

Nguyên nhân gây COPD chính là hút thuốc lá. Các nguyên nhân khác ít thông dụng hơn gồm ô nhiễm không khí, tổn thương phổi tái đi tái lại do nhiễm trùng, và bệnh di truyền (khuyếm khuyết alpha-1 antitrypsin)

Điều trị gồm cai thuốc, thuốc làm thông đường dẫn khí và giảm viêm, ngừa nhiễm trùng phổi, cung cấp ô xy, và phục hồi chức năng phổi.

(Theo BSGĐ)

Bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ


Viêm tiểu phế quản là bệnh rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ có thể phải nhập viện và cần sự hỗ trợ của máy thở và thuốc kháng virus.

Nguyên nhân gây bệnh?

Thủ phạm gây viêm tiểu phế quản là virus hợp bào hô hấp (RSV), thường gieo bệnh cho trẻ dưới 2 tuổi vào mùa đông và đầu xuân. Ở người già, bệnh có biểu hiện như chứng cảm lạnh thường.

Triệu chứng điển hình của viêm tiểu phế quản ở trẻ gồm:

- Ho

- Khò khè

- Khó thở

- Ra nhiều mủ nhầy

- Ăn uống kém

Điều trị viêm tiểu phế quản bằng cách nào?

Thuốc kháng sinh không có tác dụng trong trường hợp này, vì viêm tiểu phế quản do virus gây nên. Một loại thuốc kháng virus có tên là ribavirin có thể giúp trị bệnh, song dược liệu này không phổ biến vì có nguy cơ gây phản ứng phụ và thiếu tính thực tế trong sử dụng. Do đó, cách đối phó tốt nhất là hỗ trợ và dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Phần lớn trẻ nhỏ viêm tiểu phế quản RSV nhẹ thường bị ho và khò khè một chút, song nhìn chung vẫn ăn uống tốt và không cần sự hỗ trợ của máy thở hay viên thuốc nào. Trong một vài ngày, bệnh sẽ tự khỏi.

Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ sẽ thấy khó chịu vì triệu chứng thở khò khè và ra nhiều dịch nhầy, ngăn cản không khí tới các phế nang của phổi. Lúc này, trẻ cần thêm oxy, hoặc thậm chí phải dùng đến salbutamol - dược liệu làm giãn cơ phổi dùng trong bệnh hen suyễn.

Một khâu quan trọng trong điều trị viêm tiểu phế quản là hút hết dịch nhầy, và việc này cần phải tới bệnh viện.

Có phải trẻ nào cũng dễ mắc bệnh?

Trẻ sơ sinh và những em gặp sự cố về hô hấp hoặc tim mạn tính có nguy cơ bị viêm tiểu phế quản nặng. Đã có văcxin đặc biệt dành riêng cho trẻ có nguy cơ cao. Hãy tham vấn bác sĩ về loại văcxin này.

Có phải viêm tiểu phế quản sẽ phát triển thành hen suyễn?

Một số người hiểu nhầm rằng viêm tiểu phế quản chắc chắn sẽ trở thành hen suyễn, nguyên nhân có thể do chúng có triệu chứng giống nhau. Cần biết rằng hen suyễn được định nghĩa là tình trạng tái diễn các cơn khò khè, ho và khó thở ở những trẻ không bị mắc bệnh phổi nào khác.

Một số chuyên gia cho rằng những trẻ có di truyền dị ứng hoặc hen suyễn rất dễ bị nhiễm khuẩn RSV, trong khi số lại nói RVS có thể kích thích phát triển bệnh hen suyễn. Dù ở trường hợp nào, hiện tượng tái diễn bệnh là yếu tố quyết định. Nghĩa là nếu trẻ có biểu hiện tái phát triệu chứng nhiều lần thì đó có thể bệnh hen suyễn, còn nếu không tái phát thì đó là viêm tiểu phế quản.
(Theo VNexpress)

Biến chứng của hen phế quản



Hen phế quản (HPQ) là một bệnh hay gặp. Biến chứng của HPQ rất nặng, nhưng người bệnh lại ít khi chú ý đến các biến chứng này.

Về mùa đông - xuân, thời tiết lạnh là điều kiện thuận lợi để các biến chứng của bệnh hen xảy ra, cho nên mọi người cần phải biết để phòng tránh.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hen là một hiểm họa của loài người, là một trong các bệnh mạn tính hay gặp nhất. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người hen, dự tính đến năm 2025 con số này tăng lên 400 triệu người.

Đông Nam Á là khu vực có độ lưu hành hen gia tăng nhanh: Malaysia 9,7%, Philippines 11,8%, Thái Lan 9,2%, Singapore 14,3%, Việt Nam khoảng 5%. Tử vong do hen mỗi năm có 200.000 trường hợp, Việt Nam có 3.000 ca.

Hen tiến triển từng đợt cấp, sau mỗi đợt, bệnh diễn biến nặng hơn và nguy hiểm hơn, là bệnh hay gây ra những biến chứng như:

Xẹp phổi: Hơn 1/3 trẻ em nằm trong bệnh viện vì hen bị biến chứng xẹp phổi. Xẹp phổi một thùy hoặc nhiều thùy là biến chứng gặp tỷ lệ khoảng 10% số bệnh nhân vào viện. Khi hen ổn định thì tình trạng xẹp phổi sẽ khỏi.

Nhiễm khuẩn phế quản: Thường là biến chứng ở các bệnh nhân bị hen mạn tính. Nhân các đợt chuyển mùa, các đợt rét, thời tiết thay đổi đột ngột trong ngày, độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn, virus gây viêm nhiễm vùng tai mũi họng, đường hô hấp dưới, gây các đợt cúm làm cho những triệu chứng bệnh hen nặng hơn. Bệnh nhân sốt, khó thở tăng, có đờm nhiều. Xét nghiệm máu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Xét nghiệm đờm thấy bạch cầu thoái hóa và tạp khuẩn, có khi thấy vi khuẩn lao.

Giãn phế nang đa tiểu thùy: Sự đàn hồi của các phế nang ở bệnh nhân hen giảm dần theo thời gian, thở ra ít, thể tích khí cặn tăng. Còn gọi là bệnh khí phế thũng. Bệnh nhân khó thở khi gắng sức, thậm chí không thổi tắt được que diêm đốt cháy ở cách xa một ít. Ho khạc đờm nhiều, môi và đầu chi tím tái. Gõ phổi nghe tiếng rất vang, rì rào phế nang giảm, có khi mất. Tiếng tim xa xăm. Xquang: phổi quá sáng, cơ hoành hạ thấp, tim hình giọt nước, góc tâm hoành tù, các xương sườn nằm ngang và giãn rộng.

Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất: Gặp ở khoảng 5% hen mạn tính. Do các phế nang giãn rộng, tại vùng phế nang giãn, mạch máu thưa thớt, nuôi dưỡng kém, áp lực trong phế nang tăng. Khi phải làm việc gắng sức hoặc ho mạnh, thành phế nang dễ bị bục vỡ. Thường các dấu hiệu lâm sàng ít khi rầm rộ, nên phải có Xquang phổi mới phát hiện được. Khi có tràn khí phải xử trí cấp cứu kịp thời. Tràn khí màng phổi hai bên là nguyên nhân gây đột tử ở người hen phế quản.

Tâm phế mạn tính: Gặp ở 5% bệnh nhân hen mạn tính và nặng. Thể hiện khó thở khi gắng sức, tím tái liên tục, đau vùng hạ sườn phải, gan có thể to hoặc mấp mé bờ sườn. Điện tâm đồ: Nhịp xoang nhanh, sóng P cao nhọn. Sóng S chiếm ưu thế ở các chuyển đạo trước tim. Hen phế quản có khả năng phục hồi chức năng hô hấp, cho nên thời gian dẫn đến tâm phế mạn của từng bệnh nhân khác nhau, có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, thậm chí lâu hơn.

Ngừng hô hấp kèm theo có tổn thương não: Do tình trạng suy hô hấp kéo dài, đưa đến thiếu ôxy não. Có lúc ngừng tim, ngừng hô hấp trong các thể hen nặng. Những trường hợp này thường có cơn ngạt thở đột ngột, dẫn đến tăng CO2 trong máu và gây tình trạng toan hỗn hợp, rồi cuối cùng đưa đến hôn mê và tử vong.

Suy hô hấp: Thường chỉ gặp ở những bệnh nhân nằm viện, bị hen cấp tính nặng hoặc hen ác tính. Bệnh nhân khó thở, tím tái liên tục, đôi khi ngừng thở, phải thở máy hỗ trợ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong của bệnh hen.

Hen là một gánh nặng cho xã hội, theo OMS bệnh hen gây phí tổn cho loài người lớn hơn chi phí cho hai căn bệnh hiểm nghèo của thế kỷ là lao và HIV/AIDS cộng lại.

Biến chứng của hen phế quản còn nặng nề hơn. Do đó những người bị bệnh hen phế quản và mọi người trong toàn xã hội cần có sự hiểu biết để có ý thức điều trị bệnh hen ngay từ những giai đoạn đầu đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ, tiến tới kiểm soát được cơn hen, giảm các cơn khó thở trong tuần, trong ngày là góp phần khống chế một cách có hiệu quả các biến chứng của bệnh hen.

Khi gặp cơn hen ác tính hay nghi có các biến chứng của hen thì phải khẩn cấp đưa người bệnh đến các cơ sở cấp cứu ở bệnh viện để khám và xử trí kịp thời.
(Theo Sức khỏe & đời sống)

Phổi có mủ vì… sướt tay


Bệnh nhân Nguyễn Đức Huynh, 67 tuổi (Đê La Thành, Hà Nội) đang điều trị bệnh viêm phổi tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội (ảnh).

Các bác sĩ tiên liệu nhiều khả năng tình trạng viêm phổi của ông là do biến chứng của khối ápxe cơ bên ngoài. Ông đã bị nhiễm trùng ngoài da khoảng hơn một tháng trước, bắp tay và bắp đùi phải sưng to, có mủ

Bác sĩ Nguyễn Hải Anh, phó trưởng khoa hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, cho biết khoa từng tiếp nhận nhiều trường hợp sinh biến chứng ápxe phổi từ những nốt sướt tay, sướt “măng-rô”, đặc biệt là nguy cơ từ hiện tượng “chín mé”.
(Theo Tuổi Trẻ)

ANGELA SLIM - Sản phẩm Viên sủi giảm 10 cân sau 3 tháng sử dụng

Viên sủi giảm cân Angela Slim có tốt không vẫn nhiều chị em thắc mắc về sản phẩm này khi được biết viên uống giảm mỡ bụng ...